Bỏ qua điều hướng

"Giải mã" quy mô vốn, ngành nghề 39.000 doanh nghiệp rời thị trường ở TPHCM

"Giải mã" quy mô vốn, ngành nghề 39.000 doanh nghiệp rời thị trường ở TPHCM
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Phần lớn doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động ở TPHCM tập trung ở nhóm có quy mô vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng các ngành thương mại, công nghiệp chế biến - chế tạo, xây dựng...

Sau tuyến bài về: Gần 39.000 doanh nghiệp rời thị trường ở TPHCM trong 7 tháng đầu năm , trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Phạm Bình An, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển TPHCM (HIDS) đề xuất một loạt giải pháp, kiến nghị nhằm hỗ trợ doanh nghiệp duy trì, phục hồi và phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh.

HIDS là đơn vị được Chủ tịch UBND TPHCM giao nghiên cứu, đánh giá tình hình doanh nghiệp thành lập mới và rút lui khỏi thị trường trên địa bàn thành phố trong 7 tháng đầu năm. Cơ quan này đã tổng hợp dữ liệu, khảo sát, thu thập ý kiến của Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM (HUBA) và một số hiệp hội, hội ngành nghề và có báo cáo bước đầu.

Như báo Dân trí đã phản ánh về việc gần 39.000 doanh nghiệp ở TPHCM rời thị trường trong 7 tháng qua, các doanh nghiệp này có quy mô, đặc điểm ngành nghề ra sao, thưa ông?

- Trong 7 tháng đầu năm, TPHCM có 34.096 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 22,81% so với cùng kỳ năm 2025. Tổng vốn đăng ký mới đạt 225.883 tỷ đồng, tăng 38,63% so với cùng kỳ năm 2025. Số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường và tổng vốn đăng ký mới tiếp tục tăng.

Tại phiên họp về tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 diễn ra sáng 4/9, Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Văn Được cho biết tính đến nay, thành phố thu ngân sách Nhà nước đạt gần 625.000 tỷ đồng, bằng 77,6% dự toán, tăng 19,2% so với cùng kỳ (đạt 62,4% trong mục tiêu 1 triệu tỷ đồng). Kết quả này đến từ nhiều nỗ lực của địa phương trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế có nhiều biến động.

Nhiều ý kiến cho rằng dù còn khó khăn, nhưng động lực tăng trưởng kinh tế 2 con số của TPHCM từ nay tới cuối năm vẫn là tích cực, đóng góp vào đà tăng trưởng chung của cả nước.

Ở chiều ngược lại, có 31.321 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 10,51% so cùng kỳ. Xét theo quy mô vốn đăng ký, doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động tập trung chủ yếu ở nhóm có vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng, với 28.343 doanh nghiệp, chiếm 90,49% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng.

Nhóm có vốn từ 10 đến dưới 20 tỷ đồng có 1.662 doanh nghiệp; nhóm có vốn từ 100 tỷ đồng trở lên có 254 doanh nghiệp... Như vậy, xét về số lượng tuyệt đối, 95,8% doanh nghiệp tạm ngừng có vốn đăng ký dưới 20 tỷ đồng.

Xét theo ngành nghề kinh doanh chính, số doanh nghiệp tạm ngừng tập trung nhiều nhất ở nhóm bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy, với 13.169 doanh nghiệp, chiếm 42,05% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng.

Tiếp theo là công nghiệp chế biến, chế tạo; xây dựng; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và các hoạt động chuyên môn khác với 2.966 doanh nghiệp…

Một số ngành có số lượng đáng chú ý gồm vận tải, kho bãi; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị và các dịch vụ hỗ trợ khác với 1.392 doanh nghiệp; kinh doanh bất động sản; dịch vụ lưu trú và ăn uống.

Lý do các doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là gì?

- Thực tế, việc tiếp cận các doanh nghiệp đã rút khỏi thị trường để tìm hiểu nguyên nhân trực tiếp gần như không thể thực hiện được.

Một số nguyên nhân sơ bộ ban đầu cho thấy tình trạng doanh nghiệp thu hẹp hoạt động và rút lui khỏi thị trường không diễn ra đồng đều giữa các nhóm doanh nghiệp. Khó khăn về thị trường và đơn hàng là một trong những nguyên nhân đáng lưu ý.

Giải mã quy mô vốn, ngành nghề 39.000 doanh nghiệp rời thị trường ở TPHCM - 1

Nhiều mặt bằng bỏ trống ở TPHCM (Ảnh: Lam Giang)

Kết quả khảo sát doanh nghiệp quý II/2026 của HUBA ghi nhận 39% doanh nghiệp phản ánh thiếu đơn hàng mới và 33% doanh nghiệp nói nhu cầu tiêu dùng suy giảm; có 50% ý kiến phản ánh giá nguyên liệu đầu vào tăng và 39% doanh nghiệp nêu chi phí vận chuyển, logistics tăng.

Ở một số ngành công nghệ - kỹ thuật, khó khăn còn mang tính đặc thù, phản ánh sức ép cạnh tranh về giá, thiếu lao động kỹ thuật và một số vướng mắc liên quan đến nhập khẩu thiết bị đang ảnh hưởng đến khả năng duy trì biên lợi nhuận và đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp. Áp lực cạnh tranh từ hàng nhập khẩu giá thấp cũng là yếu tố cần lưu ý, sức mua trong nước giảm còn cạnh tranh từ hàng Trung Quốc gia tăng, làm tăng áp lực đối với doanh nghiệp trong ngành. 

Ở góc độ ngược lại, làn sóng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường có thể mang lại tác động điều chỉnh tích cực cho cấu trúc kinh tế thành phố, khi loại bỏ các doanh nghiệp tạo ra giá trị gia tăng thấp, mô hình quản trị kém thích ứng hoặc phụ thuộc quá mức vào đòn bẩy tài chính. Từ đó lực lượng sản xuất trên địa bàn dịch chuyển sang các lĩnh vực có công nghệ và giá trị gia tăng cao, xác lập mô hình tăng trưởng bền vững hơn cho GRDP thành phố.

Những yếu tố được nói tới gần đây là chi phí tuân thủ và thủ tục hành chính, theo ông có là nguyên nhân trong bức tranh chưa sáng kể trên?

- Chi phí tuân thủ và quá trình thực hiện thủ tục hành chính cũng được cộng đồng doanh nghiệp phản ánh. Thực tế, chi phí tuân thủ một số quy định chuyên ngành, cùng với chi phí lao động và bảo hiểm xã hội tăng, làm gia tăng chi phí sản xuất.

Khảo sát của HUBA cho thấy 39% doanh nghiệp được hỏi phản ánh chi phí tuân thủ cao; 61% doanh nghiệp đề nghị tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính và mở rộng thực hiện trực tuyến; 44% doanh nghiệp đề nghị các kiến nghị của doanh nghiệp được xử lý nhanh hơn.

Doanh nghiệp nêu trong thực tế còn phát sinh trường hợp hệ thống trực tuyến gặp khó khăn, thời gian giải quyết hồ sơ kéo dài hoặc việc áp dụng một số yêu cầu về phòng cháy, chữa cháy, thuế, hóa đơn và tiêu chuẩn quản lý tạo thêm chi phí đối với doanh nghiệp. Đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và các cơ sở sản xuất đã hình thành từ nhiều năm trước…

Giải mã quy mô vốn, ngành nghề 39.000 doanh nghiệp rời thị trường ở TPHCM - 2

Để doanh nghiệp có thể quay trở lại thị trường, phát triển và lớn lên, trong vai trò cơ quan tham mưu chính sách cho UBND TPHCM, HIDS đề xuất những chính sách nào?

Các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp được HIDDS đề xuất đặc biệt ưu tiên nhóm doanh nghiệp còn khả năng duy trì hoạt động nhưng đang gặp khó khăn, vướng mắc về thị trường, vốn, chi phí và thủ tục.

Cụ thể, hỗ trợ tiếp cận tín dụng và dòng tiền. Tăng khả năng tiếp cận vốn lưu động đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp có phương án sản xuất - kinh doanh khả thi nhưng đang gặp khó khăn tạm thời về dòng tiền. Kiến nghị các tổ chức tín dụng xem xét kỳ hạn vay phù hợp hơn với chu kỳ sản xuất - kinh doanh. Thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về giảm lãi suất cho vay, ưu tiên sản xuất kinh doanh.

Cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ. Rà soát các thủ tục còn phát sinh nhiều bước, tăng tỷ lệ giải quyết trực tuyến thực chất; bảo đảm hồ sơ được theo dõi đến kết quả cuối cùng, hạn chế tình trạng chuyển hồ sơ qua nhiều cơ quan nhưng chậm phản hồi. Cần xác định rõ đầu mối, trách nhiệm và thời hạn giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp.

Hỗ trợ giảm áp lực chi phí sản xuất - kinh doanh. Tiếp tục rà soát các khoản chi phí thuộc phạm vi TPHCM có thể tác động, nhất là chi phí logistics, mặt bằng sản xuất và chi phí tuân thủ. Đối với những khó khăn về nguyên vật liệu, vận tải và logistics, cần tăng cường kết nối cung ứng, hạ tầng và phối hợp tháo gỡ các điểm nghẽn trong lưu thông hàng hóa.

Giải mã quy mô vốn, ngành nghề 39.000 doanh nghiệp rời thị trường ở TPHCM - 3

Hỗ trợ mặt bằng sản xuất và ổn định hoạt động đầu tư. Tiếp tục rà soát, tháo gỡ vướng mắc về đất đai, mặt bằng, xây dựng đối với các dự án thuộc thẩm quyền thành phố; rà soát, nghiên cứu khả năng bố trí quỹ đất, nhà xưởng và không gian sản xuất phù hợp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa…

Ngoài ra, cần tăng cường theo dõi, cảnh báo sớm thực trạng hoạt động của doanh nghiệp. Đẩy mạnh kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa đăng ký doanh nghiệp, thuế, bảo hiểm xã hội, lao động và các cơ quan liên quan để phân biệt rõ doanh nghiệp đang hoạt động, doanh nghiệp tạm ngừng và doanh nghiệp đã ngừng hoạt động từ những năm trước nhưng chưa hoàn tất thủ tục. Qua đó, từng bước hình thành cơ chế cảnh báo sớm đối với nhóm doanh nghiệp có dấu hiệu thu hẹp hoạt động, giúp thành phố có giải pháp hỗ trợ kịp thời.

Kiến nghị UBND TPHCM chỉ đạo các sở, ngành tập trung rà soát và xử lý nhanh các vướng mắc thuộc thẩm quyền thành phố, nhất là thủ tục hành chính, đất đai, xây dựng và kiến nghị của doanh nghiệp. Xây dựng cơ chế phối hợp theo dõi nhóm doanh nghiệp có dấu hiệu thu hẹp, tạm ngừng hoạt động để hỗ trợ trước khi doanh nghiệp phải rút khỏi thị trường.

Rà soát hồ sơ thuế cần theo hướng hỗ trợ, giảm trừng phạt

Đề nghị Sở Tài chính, Thuế TPHCM và các đơn vị liên quan tiếp tục rà soát, làm rõ cơ cấu doanh nghiệp giải thể trong 7 tháng qua, đặc biệt phân biệt giữa doanh nghiệp mới chấm dứt hoạt động trong kỳ và doanh nghiệp đã ngừng hoạt động từ những năm trước nhưng nay mới hoàn tất thủ tục, nhằm bảo đảm việc đánh giá thực trạng hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp sát thực tế.

Hoạt động rà soát hồ sơ thuế doanh nghiệp cần tiếp tục tăng cường để làm sạch môi trường kinh doanh nhưng theo hướng hỗ trợ, hướng dẫn, giảm trừng phạt. Bởi doanh nghiệp cần được hỗ trợ thuận lợi nhất trong thành lập, khởi sự kinh doanh và cả khi rời khỏi thị trường…

Cần tiếp tục kiến nghị thủ tục thuế đối với hộ kinh doanh thật đơn giản, nâng mức doanh thu chịu thuế lên ít nhất 3 tỷ đồng như VCCI đề xuất. Đồng thời, tăng tính ổn định và khả năng dự báo của chính sách, bảo đảm hướng dẫn thống nhất giữa các cơ quan; tăng cường thanh tra, kiểm tra theo mức độ rủi ro, hạn chế trùng lặp và có thời gian chuyển tiếp phù hợp đối với các quy định mới.

Xin cám ơn ông!

Vấn đề xoay quanh ''Giải mã' quy mô vốn, ngành nghề 39.000 doanh nghiệp rời thị trường ở TPHCM' vừa được Dân Trí phản ánh, làm sáng tỏ thêm các khía cạnh thực tiễn. Dữ liệu thực tế cho thấy phần lớn doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động ở TPHCM tập trung ở nhóm có quy mô vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng các ngành thương mại, công, mang đến góc nhìn chân thực và đa chiều. Đây được xem là chuyển động đáng chú ý, mở ra nhiều thảo luận thực chất trong thời gian tới.