GS Nguyễn Nguyên Phong, 88 tuổi, ngày 9/10 đến Đại học Bách khoa Hà Nội (HUST) tham quan triển lãm thành tựu khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo dịp kỷ niệm 70 năm thành lập trường.
Bước vào phòng truyền thống, ông Phong xúc động khi thấy xác bom từ trường được trưng bày cùng tấm ảnh một số thành viên nhóm nghiên cứu GK1 khi thực hiện đề tài "Phá thuỷ lôi từ tính và bom từ trường". Đây là công trình nghiên cứu được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt một, dịp Quốc khánh 2/9/1996.
"Đứng ở không gian này, những ký ức trong gần 40 năm gắn bó với Bách khoa Hà Nội ùa về", GS Phong nói.
GS Nguyễn Nguyên Phong tại Đại học Bách khoa Hà Nội, ngày 9/10. Ảnh: Thế Bằng
Ông Phong trở thành giảng viên Đại học Bách khoa Hà Nội từ năm 1957, khi mới 19 tuổi, sau ba năm học ngành Vật lý ở trường Đại học Sư phạm. Chàng trai gốc Thanh Hoá là một trong những giảng viên trẻ nhất lúc bấy giờ, khi Bách khoa mới ra đời được một năm.
Ông mô tả thời gian đầu ở Bách khoa là "được trường đào tạo". Giảng dạy được 4 năm, ông đi thực tập tại Liên Xô, rồi làm cộng tác viên khoa học tại Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna - một tổ chức nghiên cứu khoa học liên Chính phủ nổi tiếng.
Năm 1970, ông Phong trở về, xây dựng bộ môn Kỹ thuật Hạt nhân của HUST. Song song giảng dạy, ông tham gia nhiều dự án cấp thiết, gồm nghiên cứu cách thức phá thuỷ lôi và bom từ trường trong chiến tranh chống Mỹ.
Nhớ lại thời điểm năm 1972, ông Phong kể Mỹ tiến hành rải thuỷ lôi phong toả cảng Hải Phòng cùng nhiều cửa sông, cửa biển trọng yếu bằng các loại vũ khí công nghệ cao khi đó như thuỷ lôi từ tính và bom từ trường. Những khí tài này khiến quân và dân ta gặp không ít khó khăn vì chưa biết nguyên lý hoạt động của nó.
Sau ngày Mỹ phong toả cảng Hải Phòng và vùng biển miền Bắc, Đảng và Nhà nước đã huy động các nhà khoa học tìm hiểu và nghiên cứu cách rà phá, vô hiệu hoá. Đội đặc nhiệm GK1 ra đời trong bối cảnh đó, do GS Vũ Đình Cự chủ trì, ông Phong là một trong 6 thành viên ban đầu.
Ông Phong giải thích G là viết tắt của Giao thông, còn K là đại diện cho Bách khoa Hà Nội bởi dự án tập hợp trí thức ở Bộ Giao thông vận tải và HUST. Việc nghiên cứu khi đó là bí mật và vô cùng khó khăn.
"Có những giai đoạn ba đêm liền không ngủ, muỗi đốt kín chân, bom rơi bên cạnh vẫn phải tập trung làm việc bởi chúng tôi biết việc này liên quan tính mạng con người, là tài sản nhà nước, không thể lơ mơ được", ông Phong nhớ lại. "Có anh em của tôi hôm trước còn đang thảo luận về phá bom từ trường, hôm sau đã hy sinh. Vậy thì làm sao mình ngồi yên được".
Dù vậy, nhóm cũng được sự hỗ trợ đắc lực từ nhiều phía. Từ 6 người ban đầu, nhóm được phép mượn người hoặc thiết bị ở bất cứ trường nào, theo chỉ đạo của GS Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Đại học và Trung học chuyên nghiệp thời đó.
Sau khoảng ba tháng, nhóm đã hiểu khá rõ về thuỷ lôi và bom từ trường, tìm ra cơ chế gây nổ của loại khí tài này. Từ đó, họ thiết kế và chế tạo nhiều loại thiết bị rà phá, làm vô hiệu hóa, giảm thiểu các thiệt hại về người và tài sản.
Năm 1996, công trình được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh. Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết đây là một trong 8 công trình nổi bật của trường trong 70 năm qua.
GS Nguyễn Nguyên Phong (bìa phải) cùng thầy Nguyễn Xuân Chánh (bìa trái) và GS Vũ Đình Cự trong nhóm GK1. Ảnh trưng bày tại HUST
Ngoài GK1, GS Phong cùng nhóm chuyên gia Bộ môn Kỹ thuật Hạt nhân và Vật lý môi trường, Đại học Bách khoa Hà Nội, là những người đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu và triển khai ứng dụng Kỹ thuật kiểm tra không phá hủy (NDT) sử dụng bức xạ gamma và tia X.
Khi các nhà máy nhiệt điện ở Miền Bắc liên tục bị bom Mỹ phá hoại, các thầy giáo Bách khoa đã mang thiết bị NDT ra hiện trường để kiểm tra mối hàn, vết nứt tua-bin, đảm bảo dòng điện không bị gián đoạn. Công nghệ này sau đó được ứng dụng vào công trình trọng điểm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh; kiểm tra mối hàn đường ống dẫn nước cao áp và trục tuốc-bin của Nhà máy Thủy điện Đa Nhim trong kế hoạch khôi phục gấp gáp sau hư hại do chiến tranh.
Năm 1976, khi Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam được thành lập, ông Phong được giao làm Trưởng phòng Lò phản ứng và Điện hạt nhân. Ông cũng là một trong những cán bộ khoa học đầu tiên bước chân vào khảo sát thực địa Lò phản ứng TRIGA-MARK II tại Đà Lạt sau khi tiếp quản từ quân đội.
GS Phong còn tham gia vào những trận tuyến ngoại giao ngành Hạt nhân đầy cam go trong giai đoạn 1977-1980, góp phần mang về những dự án viện trợ giá trị như Dự án Trung tâm Chiếu xạ Hà Nội, hệ thống phân tích huỳnh quang tia X, máy nhiễu xạ tia X... phục vụ đắc lực cho nghiên cứu và phát triển kinh tế sau chiến tranh.
Tại Bách khoa Hà Nội, ông đảm nhiệm đến chức Viện phó Viện Vật lý Kỹ thuật, là người đặt nền móng cho chương trình đào tạo kỹ sư Vật lý Hạt nhân.
Nghỉ hưu năm 1995, GS Phong nhận lời mời của Chính phủ Angola sang làm chuyên gia cao cấp cho Bộ Khoa học và Công nghệ, đồng thời là Giáo sư thực thụ (Titular) tại Đại học Quốc gia Agostinho Neto.
Trở lại Bách khoa, GS Phong nhớ đến lời dặn của GS Tạ Quang Bửu: "Là người làm khoa học phải thực sự khiêm tốn, nhưng phải biết không sợ: không sợ dài, không sợ phức tạp, không sợ hy sinh, không sợ cường quyền nữa".
"Đây cũng là điều tôi muốn nhắn gửi tới các sinh viên", GS Phong nói.
GS Nguyễn Nguyên Phong (thứ hai từ phải sang) cùng các cộng sự trình bày kế hoạch nghiên cứu tình trạng kỹ thuật của Lò phản ứng Đà Lạt năm 1977. Ảnh Đại học Bách khoa Hà Nội sưu tầm
Dương Tâm