Bỏ qua điều hướng
•

Gỡ vướng, thúc đẩy khai thác nhà, đất dôi dư sau sắp xếp bộ máy

Gỡ vướng, thúc đẩy khai thác nhà, đất dôi dư sau sắp xếp bộ máy
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Hơn 10.400 cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp bộ máy chưa hoàn thành xử lý, khai thác. Bộ Tài chính đang đề xuất bổ sung cơ chế cho thuê, phân cấp thẩm quyền và làm rõ điều kiện ưu tiên để sớm đưa tài sản vào sử dụng, hạn chế lãng phí. Đẩy nhanh tiến độ xử lý, khai thác nhà, đất dôi dư sau sắp xếp Xử...

Tiến độ giữa các địa phương còn cách biệt

Theo số liệu Bộ Tài chính cập nhật đến ngày 26/10/2026, khối địa phương còn 9.608 cơ sở nhà, đất dôi dư chưa hoàn thành xử lý, khai thác; khối bộ, cơ quan trung ương còn 795 cơ sở. Tiến độ chênh lệch giữa các đơn vị đặt ra yêu cầu tập trung giải quyết khối lượng còn lại, gắn việc xử lý với hiệu quả sử dụng tài sản.

Tuyên Quang đã hoàn thành xử lý, khai thác 1.581 trong tổng số 1.611 cơ sở nhà, đất dôi dư, đạt 98,1%. Bắc Ninh hoàn thành 1.001 trong số 1.031 cơ sở, đạt 97,1%. Trong khi đó, Thành phố Hồ Chí Minh mới hoàn thành 14 trong số 279 cơ sở, đạt 5%; Cà Mau hoàn thành 43 trong số 390 cơ sở, đạt 11%.

Đây là những mức chênh lệch đáng chú ý trong bảng công khai tiến độ khai thác, xử lý nhà, đất dôi dư của Bộ Tài chính, cập nhật đến ngày 26/10/2026. Số liệu được tổng hợp từ phần mềm theo dõi kết quả xử lý, khai thác nhà, đất dôi dư do các bộ, ngành, địa phương cập nhật.

Ở khối địa phương, tổng số cơ sở nhà, đất dôi dư phải xử lý là 26.415 cơ sở. Trong đó, 16.807 cơ sở đã hoàn thành xử lý, khai thác, đạt 63,6%; còn 9.608 cơ sở chưa hoàn thành. Cả 34 tỉnh, thành phố đều còn nhà, đất dôi dư phải tiếp tục xử lý.

Nhóm có tỷ lệ hoàn thành cao còn có Lạng Sơn đạt 96,5%, Thái Nguyên đạt 92,4%, Hải Phòng đạt 89,1%. Tuy nhiên, ngay trong nhóm này, khối lượng còn lại cũng khác nhau: Tuyên Quang và Bắc Ninh mỗi địa phương còn 30 cơ sở; Lạng Sơn còn 22 cơ sở; Hải Phòng còn 109 cơ sở.

Ở nhóm có tỷ lệ hoàn thành thấp hơn tiến độ chung của khối địa phương, Quảng Trị đạt 11,6%, còn 586 cơ sở; Đà Nẵng đạt 24%, còn 965 cơ sở; Gia Lai đạt 36,7%, còn 971 cơ sở. Ninh Bình còn 546 cơ sở, Phú Thọ còn 622 cơ sở, Thanh Hóa còn 589 cơ sở.

Gia Lai và Đà Nẵng là hai địa phương có số cơ sở chưa hoàn thành xử lý, khai thác lớn nhất trong bảng công khai. Cộng riêng hai địa phương còn 1.936 cơ sở, chiếm hơn một phần năm khối lượng chưa hoàn thành của khối địa phương.

Đối với khối bộ, cơ quan trung ương, tổng số nhà, đất dôi dư phải xử lý là 5.115 cơ sở. Đã hoàn thành xử lý, khai thác 4.320 cơ sở, đạt 84,5%; còn 795 cơ sở chưa hoàn thành.

Bộ Tài chính có khối lượng phải xử lý lớn nhất, với 1.812 cơ sở; đã hoàn thành 1.698 cơ sở, đạt 93,7%, còn 114 cơ sở. Bộ Công thương đạt 97,3%, Bộ Tư pháp đạt 98%, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đạt 97,8%.

Khối lượng còn lại tập trung nhiều tại Bộ Công an với 146 cơ sở, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với 139 cơ sở, Tòa án nhân dân tối cao với 134 cơ sở và Bộ Nông nghiệp và Môi trường với 122 cơ sở.

Báo cáo của Bộ Tài chính đồng thời phân biệt những cơ quan không phát sinh nhà, đất dôi dư với những cơ quan đã hoàn thành xử lý. Trong khối bộ, cơ quan trung ương, có 9 cơ quan không có nhà, đất dôi dư; Văn phòng Quốc hội đã hoàn thành xử lý cả 2 cơ sở thuộc diện phải xử lý.

Những kết quả trên cho thấy khối lượng công việc còn lại cần được xem xét đồng thời theo số cơ sở và tỷ lệ hoàn thành. Địa phương có tỷ lệ xử lý cao vẫn có thể còn nhiều tài sản phải giải quyết nếu tổng số ban đầu lớn. Ngược lại, tỷ lệ thấp cần được làm rõ bằng tình hình cụ thể của từng cơ sở, từng phương án xử lý.

Đưa nhà, đất trở lại sử dụng

Ông Nguyễn Tân Thịnh, Cục trưởng Cục Quản lý công sản, Bộ Tài chính, cho biết Nghị quyết số 31/2026/NQ-CP ngày 24/6/2026 của Chính phủ về các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm đẩy nhanh tiến độ xử lý, khai thác nhà, đất dôi dư sau khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính đã tháo gỡ những vướng mắc về thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý tài sản. Việc phân cấp và đơn giản hóa các bước thực hiện giúp địa phương chủ động lựa chọn phương án khai thác. Theo ông, việc xử lý phải gắn với hiệu quả sử dụng, để nguồn lực Nhà nước đã đầu tư tiếp tục phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, tránh tình trạng tài sản bỏ trống, xuống cấp.

Từ thực tế Thái Nguyên, bà Vũ Thị Anh Dung, Phó Giám đốc Sở Tài chính tỉnh, cho biết cơ chế chủ động xác định giá theo phương pháp quy định, không phải thuê tư vấn như trước, đã giúp rút ngắn quy trình cho thuê nhà, đất. Với một số cơ sở có nhu cầu điều chuyển cho cơ quan, đơn vị trung ương, địa phương có thể áp dụng cơ chế tạm giao trong thời gian chờ ý kiến chính thức.

Việc chuyển đổi công năng cũng đã tạo thêm cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu thực tế. Tại Thái Nguyên, một trụ sở thuộc Tỉnh ủy Bắc Kạn trước đây được chuyển giao cho Đại học Thái Nguyên làm cơ sở đào tạo. Tài sản không còn phù hợp với nhu cầu sử dụng cũ tiếp tục được tận dụng cho hoạt động giáo dục, đào tạo.

Tuy nhiên, việc đưa nhà, đất dôi dư vào khai thác vẫn còn những vướng mắc. Theo dự thảo tờ trình của Bộ Tài chính về bổ sung cơ chế, chính sách đặc thù xử lý nhà, đất dôi dư, đối với tài sản được giao quản lý theo pháp luật đất đai, việc thực hiện phương án giao đất, cho thuê đất có thể phải qua nhiều khâu về chuyển mục đích sử dụng, điều chỉnh quy hoạch, đo đạc địa chính, xác định ranh giới, diện tích và giá đất. Quá trình này cần thời gian tương đối dài.

Trong thời gian chờ hoàn tất các thủ tục, địa phương đã nghiên cứu phương án cho thuê đất ngắn hạn. Song cách xác định giá tài sản gắn liền với đất cùng một số nội dung về phương thức, trình tự cho thuê, điều chỉnh giá, ký hợp đồng và xử lý vi phạm vẫn cần được quy định cụ thể hơn để thuận lợi thực hiện.

Để tháo gỡ những vướng mắc này, dự thảo nghị quyết được công bố lấy ý kiến ngày 23/10/2026 đề xuất bổ sung cơ chế khai thác nhà, đất dôi dư do tổ chức phát triển quỹ đất và Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận từ ngày 1/3/2025 để quản lý, khai thác theo pháp luật đất đai.

Theo đó, khi có đề nghị và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đồng ý, tổ chức phát triển quỹ đất được cho thuê nhà, đất đã tiếp nhận theo cơ chế áp dụng đối với tổ chức quản lý, kinh doanh nhà địa phương. Ở cấp xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã được giao đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực kinh tế trực thuộc thực hiện việc cho thuê.

Hai trường hợp này không phải bổ sung nhiệm vụ quản lý, kinh doanh nhà; thời hạn cho thuê tối đa 5 năm, trong thời gian chưa thực hiện giao đất, cho thuê đất theo pháp luật đất đai. Nếu Nhà nước thực hiện kế hoạch sử dụng đất, hợp đồng phải chấm dứt trước hạn và được xử lý theo Nghị quyết số 31/2026/NQ-CP.

Với cơ sở đã công khai cho thuê đất ngắn hạn nhưng hết hạn không có người đăng ký, dự thảo cho phép chuyển sang cơ chế mới khi được cấp có thẩm quyền đồng ý, sử dụng đơn giá khởi điểm đã xác định. Nếu tiếp tục không có người đăng ký, việc điều chỉnh giá thực hiện theo quy định tương ứng.

Dự thảo cũng làm rõ đối tượng ưu tiên thuê nhà là cơ sở thực hiện xã hội hóa: phải thuộc danh mục loại hình do Thủ tướng Chính phủ ban hành và đáp ứng tiêu chí về quy mô, tiêu chuẩn, hoặc sẽ đáp ứng khi được thuê địa điểm đăng ký. Nhà thuê phải được sử dụng đúng lĩnh vực, loại hình xã hội hóa; cơ sở phải thuyết minh và chịu trách nhiệm về thông tin cung cấp.

Nếu qua kiểm tra, thanh tra, giám sát phát hiện không đủ điều kiện hưởng ưu tiên, bên thuê phải hoàn trả tiền thuê đã được miễn, giảm và nộp khoản tương đương tiền chậm nộp cho thời gian không đáp ứng điều kiện; đồng thời không tiếp tục hưởng ưu tiên trong thời gian thuê còn lại.

Các đề xuất đang được lấy ý kiến nhằm sớm đưa nhà, đất vào khai thác trong thời gian chờ phương án sử dụng lâu dài, gắn với trách nhiệm của các bên và yêu cầu phòng ngừa thất thoát, lãng phí.

MINH PHƯƠNG

Tiến độ xử lý hơn 10.400 cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp bộ máy đang ghi nhận sự phân hóa sâu sắc giữa các khối cơ quan và địa phương trên cả nước. Theo số liệu của Bộ Tài chính tính đến ngày 26/10/2026, khối bộ, cơ quan trung ương đã hoàn thành 84,5% với 4.320 trên tổng số 5.115 cơ sở, chỉ còn lại 795 điểm cần tháo gỡ. Trong khi đó, khối địa phương mới đạt tỷ lệ 63,6%, tồn đọng tới 9.608 cơ sở trải rộng khắp 34 tỉnh, thành phố. Khoảng cách thực hiện giữa các đơn vị cấp tỉnh phản ánh rõ rệt những khó khăn thực tiễn trong công tác điều phối tài sản công. Nếu Tuyên Quang và Bắc Ninh dẫn đầu với tỷ lệ hoàn tất lần lượt 98,1% và 97,1%, thì Thành phố Hồ Chí Minh chỉ đạt 5% và Cà Mau đạt 11%. Đáng chú ý, hai địa phương có khối lượng tồn đọng lớn nhất là Gia Lai với 971 cơ sở và Đà Nẵng với 965 cơ sở, chiếm tới hơn một phần năm tổng khối lượng chưa hoàn thành của cả khối địa phương. Áp lực tồn đọng ở tuyến trung ương hiện tập trung chủ yếu tại Bộ Công an, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Tòa án nhân dân tối cao. Thực trạng này cho thấy việc đánh giá tiến độ cần song hành giữa tỷ lệ phần trăm và quy mô tài sản thực tế cần xử lý. Các đề xuất phân cấp thẩm quyền, bổ sung cơ chế cho thuê và làm rõ điều kiện ưu tiên từ Bộ Tài chính được kỳ vọng sẽ nhanh chóng khơi thông nguồn lực, ngăn chặn lãng phí tài sản công.
amung