Tình trạng ngập tại khu vực phía Tây Hà Nội cho thấy một bài toán khác với ngập úng trong nội đô. Mưa đã kết thúc nhiều ngày nhưng tại đường gom Đại lộ Thăng Long, Hạ Bằng, Hòa Lạc, một số điểm vẫn ngập sâu, có thời điểm phải phân luồng giao thông.
Theo Chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Đại Thắng, tình trạng ngập kéo dài tại khu vực này không còn đơn thuần do mưa. Nguyên nhân chủ yếu liên quan đến mực nước sông Tích, sông Bùi dâng cao cùng lượng nước từ khu vực Hòa Bình, Phú Thọ đổ về.
Thực tế đó đặt ra yêu cầu phải xem xét lại toàn bộ hệ thống tiêu thoát nước phía Tây. Thay vì khắc phục riêng tại từng điểm ngập hoặc đầu tư rời rạc theo địa giới hành chính, Hà Nội xác định cần nghiên cứu tổng thể lưu vực sông Bùi, sông Tích và sông Đáy, từ nguồn nước, hướng dòng chảy đến khả năng điều tiết của hồ chứa, trạm bơm và hệ thống đê.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, khu vực lưu vực sông Bùi, sông Tích còn những hạn chế về hệ thống đê điều, thủy lợi, trong khi mưa lũ diễn biến ngày càng phức tạp.
Các tuyến đê bao hữu Tích có cao trình khoảng 8m. Khi mực nước tại cống Vĩnh Phúc vượt 8m, tương ứng báo động III, nước có thể tràn đê. Đê bao hữu Bùi có cao trình khoảng 7m và có nguy cơ bị tràn khi mực nước tại Yên Duyệt đạt mức tương đương.
Trong đợt mưa lũ năm 2026, mưa kéo dài hơn 4 ngày khiến mực nước trên nhiều sông cùng dâng cao. Sông Tích tại Kim Quan đạt đỉnh 9,12m; sông Bùi tại Yên Duyệt trên 7,8m; sông Đáy tại Ba Thá khoảng 7,2m và sông Mỹ Hà khoảng 6,1m. Mực nước vượt cao trình tại nhiều tuyến bờ bao, dẫn đến tình trạng tràn bờ.
Tại Xuân Mai, nguyên nhân ngập còn liên quan đến vị trí giao nhau của các dòng chảy. Nước từ sông Bùi, khu vực Lương Sơn, Hòa Bình trước đây, đổ về; trong khi nước sông Tích từ Ba Vì, Sơn Tây, Quốc Oai chảy xuống. Hai dòng sông gặp nhau ở khu vực đầu Xuân Mai, làm tăng áp lực lên hệ thống tiêu thoát nước.
Địa phương này là 1 trong 6 xã thuộc khu vực huyện Chương Mỹ cũ chịu ảnh hưởng của đợt ngập vừa qua. Trong đó, Xuân Mai, Quảng Bị và Trần Phú là 3 xã bị ảnh hưởng nặng.
Xây dựng giải pháp đồng bộ cho phía Tây Hà Nội
Từ tình hình mưa lũ vừa qua, Hà Nội đặt ra yêu cầu xây dựng quy hoạch cao độ và thủy văn khu vực phía Tây trên cơ sở số liệu về địa hình, lượng mưa và diễn biến qua nhiều năm.
Việc nghiên cứu sẽ kết nối ba tuyến sông Bùi, sông Tích và sông Đáy, đồng thời thống nhất dữ liệu về thủy văn, địa hình, địa mạo, hướng dòng chảy và cao trình đê. Các đề xuất đầu tư đê, kè, kênh, hồ chứa và trạm bơm của từng địa phương sẽ được xem xét trong tổng thể toàn lưu vực.
Khu vực phía Tây được xác định là một trong những trục phát triển của Thủ đô. Theo Chủ tịch UBND TP Hà Nội, nếu không xử lý căn cơ tình trạng ngập úng, việc triển khai không gian ngầm, đường sắt đô thị và các công trình hạ tầng tại khu vực này sẽ gặp khó khăn.
Chủ tịch UBND TP Hà Nội yêu cầu Phó Chủ tịch UBND TP Bùi Duy Cường phối hợp chỉ đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Xây dựng cùng các đơn vị liên quan nghiên cứu, tổng hợp tài liệu; đồng thời huy động các viện nghiên cứu trung ương tham gia xây dựng đề án tổng thể.
Thành phố cũng tính đến cơ chế phối hợp liên vùng với những địa phương liên quan đến lưu vực sông Đáy. Đây là nội dung cần thiết bởi nguồn nước gây áp lực cho phía Tây Hà Nội không chỉ phát sinh trong phạm vi thành phố.
Trước mắt, các đơn vị được yêu cầu phối hợp vận hành hồ chứa, trạm bơm và hệ thống sông. Khi có dự báo mưa lớn, việc tiêu, xả nước cần được thực hiện từ trước để tăng dung tích phòng lũ. Các đơn vị quản lý phải nâng cao năng lực dự báo, xác định thứ tự ưu tiên và thời điểm xả nước phù hợp với diễn biến thời tiết.
Hà Nội cũng sẽ đẩy mạnh nạo vét các dòng sông nhằm tăng khả năng tiêu thoát và dung tích dòng chảy, qua đó hạn chế áp lực nâng cao cao trình đê. Cùng với đó là tiếp tục nghiên cứu cải tạo hồ Văn Sơn và nâng năng lực trạm bơm Đầm Mới.
Về lâu dài, Sở Nông nghiệp và Môi trường đề xuất khảo sát các khu vực miền núi để xác định vị trí xây dựng hồ chứa quy mô lớn, giữ nước và hạn chế lũ rừng ngang. Tại hạ lưu, khi lũ từ Chương Mỹ tràn sang Quốc Oai và tiếp tục xuống các khu vực phía dưới, những hồ hiện có với diện tích từ vài chục đến vài trăm héc-ta khó đáp ứng yêu cầu điều tiết.
Thành Huế