Bỏ qua điều hướng
•

Hình thành các cực tăng trưởng mới

Hình thành các cực tăng trưởng mới
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt ra triết lý quản trị không gian hoàn toàn mới: Phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, chuyển tư duy quản lý dựa trên địa giới hành chính sang kiến tạo, dẫn dắt và khơi thông nguồn lực dựa trên các hệ sinh thái tích hợp. Nghị quyết số 27-NQ/TW mở đường...

Ngày 28/8/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 27-NQ/ TW về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới (Nghị quyết số 27).

Đột phá thể chế không gian phát triển quốc gia

Nghị quyết ra đời trong bối cảnh đất nước vừa hoàn thành việc sắp xếp đơn vị hành chính, triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Để biến định hướng vĩ mô thành động lực phát triển thực chất, cần nhìn nhận khách quan những thành tựu và điểm nghẽn trong liên kết, khai thác không gian tăng trưởng giữa các địa phương.

Bước sang năm 2026, bức tranh GRDP ghi nhận sự vươn lên của nhiều địa phương với tốc độ tăng trưởng ấn tượng. Trong 6 tháng đầu năm, Hà Tĩnh đạt mức tăng trưởng 12,79%, tiếp đến là Ninh Bình (11,44%), Hưng Yên (10,72%), Phú Thọ (10,18%), Tây Ninh (10,12%) và Thái Nguyên (10,01%). Đằng sau những con số này là sự đóng góp của hoạt động sản xuất, đầu tư công nghiệp và thu hút vốn đầu tư, dù mức độ và động lực tăng trưởng ở mỗi địa phương có sự khác biệt.

Tại Hà Tĩnh, các dự án công nghiệp quy mô lớn góp phần thúc đẩy tăng trưởng, nổi bật là tổ hợp sản xuất xe máy điện VinFast và Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II. Cùng với các dự án tại khu kinh tế Vũng Áng, những công trình này góp phần củng cố nền tảng công nghiệp, năng lượng của địa phương, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả liên kết giữa các dự án với doanh nghiệp và chuỗi cung ứng trong vùng.

Hưng Yên cũng cho thấy vai trò của quy hoạch và phát triển hạ tầng khu công nghiệp trong thu hút đầu tư. Các khu công nghiệp như Thăng Long II, Phố Nối A và Yên Mỹ góp phần hình thành không gian sản xuất tập trung, thu hút dòng vốn FDI và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Tuy nhiên, nền kinh tế cũng đang có nguy cơ phân hóa theo hình chữ K: Nhánh đi lên thuộc về khu vực FDI và các tập đoàn trong nước có năng lực gắn kết chặt chẽ với các dự án đầu tư công quy mô lớn, tiếp cận nguồn vốn dễ dàng và hưởng ưu đãi lớn từ các chính sách đặc thù. Nhánh đi xuống là khối doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm hơn 98% tổng số doanh nghiệp cùng khoảng 5 triệu hộ kinh doanh. Khối kinh tế nội địa này đang phải trải qua một giai đoạn khó khăn khi phải cùng lúc đối mặt chi phí đầu vào tăng cao, thị trường nội địa phục hồi chậm và rủi ro chính sách từ các tiêu chuẩn mới được ban hành dồn dập.

Sự phân hóa này đặt ra câu hỏi lớn về tính bền vững của tăng trưởng, đòi hỏi Việt Nam phải xem xét chất lượng tăng trưởng qua năng suất, sức khỏe doanh nghiệp, thu nhập và đời sống Nhân dân. Theo đó, cần phải thay đổi hệ quy chiếu quản trị phát triển với các cực và không gian tăng trưởng mới, không thể tiếp tục chạy theo sản lượng thuần túy mà phải đặt sức khỏe doanh nghiệp và năng lực nội sinh của nền kinh tế làm trung tâm của mọi quyết sách.

Chuyển từ quy hoạch hành chính sang quy hoạch tích hợp

Điểm nghẽn thứ hai là sự thiếu đồng bộ giữa phát triển công nghiệp với quy hoạch đô thị và hạ tầng xã hội tại ba vùng kinh tế trọng điểm. Tại vùng kinh tế trọng điểm phía bắc, hành lang kinh tế Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh thu hút dòng vốn FDI lớn, hình thành mạng lưới khu công nghiệp dọc các tuyến giao thông chiến lược. Tuy nhiên, quy hoạch đô thị và hạ tầng xã hội chưa theo kịp tốc độ công nghiệp hóa, khiến một số khu vực xuất hiện tình trạng đô thị hóa tự phát, nhà ở cho công nhân và dịch vụ y tế, giáo dục chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu.

Tại vùng kinh tế trọng điểm phía nam, quá trình phát triển công nghiệp tại các địa bàn lân cận Thành phố Hồ Chí Minh như Bình Dương, Đồng Nai và Long An tạo áp lực lớn lên hệ thống đô thị và hạ tầng. Các địa bàn như Biên Hòa, Dĩ An, Thuận An phải đối mặt sức ép gia tăng dân số, ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường. Trong khi đó, kết nối giao thông liên vùng và giao thông công cộng chưa đồng bộ, làm tăng chi phí đi lại và logistics.

Tại vùng kinh tế trọng điểm miền trung, các khu kinh tế ven biển như Dung Quất, Chu Lai, Chân Mây-Lăng Cô có lợi thế về hạ tầng công nghiệp nhưng còn đối mặt thách thức kết nối với các trung tâm đô thị, dịch vụ và đào tạo nhân lực. Hệ sinh thái dịch vụ và tiện ích xã hội chưa phát triển tương xứng tại một số địa bàn gây khó khăn cho việc thu hút, giữ chân chuyên gia, kỹ sư và lao động chất lượng cao, ảnh hưởng đến khả năng phát triển đồng bộ của toàn vùng.

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp mở ra cơ hội tinh gọn bộ máy hành chính, đồng thời đặt ra yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển theo hướng tích hợp, liên kết vùng. Điều quan trọng là chuyển từ tư duy quy hoạch khép kín trong ranh giới hành chính sang quy hoạch dựa trên hành lang kinh tế và lợi thế liên kết giữa các địa phương.

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng này xuất phát từ sự phân mảnh, cát cứ trong quản lý nhà nước theo vùng, lãnh thổ trước đây. Các quy hoạch ngành công nghiệp thường được các địa phương ưu tiên chạy theo mục tiêu thu ngân sách ngắn hạn hay theo quy hoạch hạ tầng giao thông chiến lược, hoàn toàn tách rời và không đồng bộ với quy hoạch xây dựng và đô thị vốn dĩ chịu áp lực của từng mục tiêu quản lý chuyên biệt. Chúng ta đang thiếu vắng các công cụ quy hoạch tích hợp không gian liên vùng đúng nghĩa. Mỗi tỉnh vẫn là một "ốc đảo" quy hoạch, cố gắng tối đa hóa lợi ích trong ranh giới địa lý của mình thay vì quan tâm đến tính toàn vẹn của cả hành lang kinh tế.

Mô hình chính quyền địa phương hai cấp mở ra cơ hội tinh gọn bộ máy hành chính, đồng thời đặt ra yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển theo hướng tích hợp, liên kết vùng. Điều quan trọng là chuyển từ tư duy quy hoạch khép kín trong ranh giới hành chính sang quy hoạch dựa trên hành lang kinh tế và lợi thế liên kết giữa các địa phương.

Để các cực tăng trưởng phát huy hiệu quả thực chất, cần đổi mới tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương, chú trọng chất lượng tăng trưởng, năng suất, đổi mới sáng tạo và mức độ liên kết kinh tế. Các cực tăng trưởng cũng cần chuyển từ mô hình dựa chủ yếu vào vốn, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên sang mô hình dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số.

Với tầm nhìn đến năm 2030 và 2045, việc tổ chức hiệu quả không gian phát triển quốc gia cần hướng tới các vùng động lực thông minh, xanh và bền vững, phát huy vai trò của kinh tế số, kinh tế dữ liệu và kinh tế tuần hoàn. Khi ranh giới hành chính không còn là rào cản đối với lưu chuyển nguồn lực và liên kết sản xuất, các địa phương mới có thể khai thác tốt hơn lợi thế bổ trợ, nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo động lực tăng trưởng dài hạn.

Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số và vượt bẫy thu nhập trung bình khó có thể đạt được nếu chỉ xem các cực tăng trưởng là những trung tâm sản xuất thuần túy. Các cực tăng trưởng cần hội tụ ba yếu tố: Thể chế pháp quyền bảo vệ quyền tài sản, môi trường kinh doanh tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước phát triển và quy hoạch không gian tích hợp, nhân văn, lấy người dân làm trung tâm.

Tiến sĩ NGUYỄN QUỐC VIỆT

Trường đại học Kinh tế-Đại học Quốc gia Hà Nội

Nghị quyết số 27-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 28/8/2026 đánh dấu bước đột phá về thể chế khi chuyển dịch phương thức tổ chức tăng trưởng từ giới hạn địa giới hành chính sang phát triển theo hệ sinh thái tích hợp. Định hướng này được đưa ra ngay sau khi đất nước hoàn thành việc sắp xếp đơn vị hành chính và triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Đây là nền tảng quan trọng nhằm khơi thông nguồn lực, tạo động lực liên kết thực chất giữa các không gian kinh tế. Bức tranh GRDP sáu tháng đầu năm 2026 ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ từ các địa phương như Hà Tĩnh đạt 12,79%, Ninh Bình 11,44%, Hưng Yên 10,72%, Phú Thọ 10,18%, Tây Ninh 10,12% và Thái Nguyên 10,01%. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ sản xuất công nghiệp và thu hút đầu tư, tiêu biểu như tổ hợp sản xuất xe máy điện VinFast, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II tại Hà Tĩnh, hay mạng lưới khu công nghiệp Thăng Long II, Phố Nối A và Yên Mỹ ở Hưng Yên. Dù vậy, hiệu quả gắn kết giữa các dự án quy mô lớn này với chuỗi cung ứng địa phương vẫn là bài toán cần lời giải. Thách thức lớn nhất hiện nay là nguy cơ phân hóa nền kinh tế theo mô hình chữ K, tạo ra sự chênh lệch sâu sắc giữa các khu vực. Trong khi khối FDI và tập đoàn lớn hưởng lợi từ đầu tư công cùng ưu đãi đặc thù, thì hơn 98% doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng 5 triệu hộ kinh doanh nội địa đang chịu áp lực lớn từ chi phí đầu vào và rủi ro chính sách. Thực tế này buộc tư duy quản trị phải chuyển từ chạy theo sản lượng sang củng cố năng lực nội sinh, đồng thời khắc phục điểm nghẽn thiếu đồng bộ giữa quy hoạch công nghiệp với đô thị và hạ tầng xã hội.
amung