Bỏ qua điều hướng

Họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Hoàn thiện khung pháp lý quản trị biển hiện đại

Họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Hoàn thiện khung pháp lý quản trị biển hiện đại
Nguồn ảnh: VietnamPlus (TTXVN)

Việc phân bổ không gian biển phải tôn trọng các quyền hợp pháp đã được xác lập, bảo đảm quyền tiếp cận biển của cộng đồng và quyền hợp pháp của các quốc gia khác theo UNCLOS 1982. Chương trình lập pháp 2027 cần chuẩn bị sớm, điều chỉnh ít và chất lượng cao hơn Giải quyết xung đột giữa phát triển kin...

Tiếp tục chương trình Phiên họp thứ 6, sáng 22/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi).

Bổ sung chế định quản lý, sử dụng không gian biển

Trình bày Tờ trình, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết dự thảo Luật gồm 6 chương, 76 điều quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển; bảo vệ môi trường biển và hải đảo; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Dự thảo Luật bổ sung chế định quản lý, sử dụng không gian biển; cơ chế giải quyết chồng lấn, xung đột trong sử dụng không gian biển; phân định trách nhiệm quản lý hành chính trên biển; quản lý công trình trên biển. Cùng với đó, bổ sung cơ chế xác lập và thực hiện quyền sử dụng khu vực biển. Việc thực hiện quyền phải bảo đảm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch và yêu cầu quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

ttxvn-2209-uy-ban-thuong-vu-quoc-hoi-3.jpg
Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Nguyễn Thanh Hải phát biểu. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Theo Báo cáo thẩm tra sơ bộ do Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Nguyễn Thanh Hải trình bày, Thường trực Ủy ban cơ bản tán thành việc mở rộng phạm vi điều chỉnh sang quản lý, sử dụng không gian biển đồng thời đề nghị bổ sung cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển các hoạt động kinh tế sử dụng không gian biển vào phạm vi điều chỉnh.

Cơ quan thẩm tra yêu cầu xác định rõ nguyên tắc áp dụng pháp luật, bảo đảm quản lý tổng hợp không làm thay đổi, chồng lấn thẩm quyền quản lý chuyên ngành và không phát sinh thủ tục hành chính không cần thiết.

Về chính sách và nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển, bảo vệ môi trường biển (Điều 4, Điều 5), Thường trực Ủy ban cơ bản tán thành các nội dung trong dự thảo Luật, đồng thời đề nghị làm rõ hơn các nguyên tắc cốt lõi của quản lý tổng hợp. Theo đó, việc quản lý phải bảo đảm điều phối liên ngành, giải quyết xung đột trong khai thác, sử dụng tài nguyên và không gian biển, nhưng không thay thế thẩm quyền quản lý theo pháp luật chuyên ngành.

Việc phân bổ không gian biển phải tôn trọng các quyền hợp pháp đã được xác lập, bảo đảm quyền tiếp cận biển của cộng đồng và quyền hợp pháp của các quốc gia khác theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).

Phát biểu tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh đây là dự án Luật rất quan trọng. Lần sửa đổi này không còn là sửa vài điều mà là đổi mới mô hình quản trị biển, tập trung vào 4 vấn đề lớn: pháp lý, quản trị, kinh tế biển và môi trường.

ttxvn-2209-uy-ban-thuong-vu-quoc-hoi-10.jpg
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Về quản lý, sử dụng không gian biển, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh đây là nội dung nền tảng. Luật phải giữ nguyên tắc quản lý cột nước, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển; có cơ chế xử lý chồng lấn giữa các lĩnh vực dầu khí, điện gió, nuôi biển, hàng hải, quốc phòng, bảo tồn; quy định việc sử dụng đa mục đích, sử dụng chung và phân định trách nhiệm quản lý hành chính trên biển.

Đồng thời, cần định nghĩa rõ "không gian biển" ngay trong Luật để thống nhất khái niệm, tránh "va chạm" với các luật hiện hành như Luật Quy hoạch, Luật Điện lực, Luật Dầu khí 2026, Luật Địa chất và Khoáng sản.

Chủ tịch Quốc hội cho rằng phải có cơ chế xử lý xung đột và xác định thứ tự ưu tiên minh bạch, từ quốc phòng, an toàn hàng hải, hệ sinh thái nhạy cảm, hạ tầng chiến lược đến phát triển kinh tế. Việc phân định ranh giới quản lý hành chính trên biển phải phù hợp với Luật Tổ chức chính quyền địa phương, tránh chồng chéo.

Về quyền sử dụng khu vực biển, Chủ tịch Quốc hội chỉ rõ việc dự thảo Luật cho phép chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển và tài sản gắn liền là cần thiết để thu hút ngân hàng, nhà đầu tư tham gia. Tuy nhiên, dự thảo Luật phải thiết kế rõ ràng, làm rõ đây là quyền sử dụng không tạo quyền sở hữu biển, đáy biển, khối nước.

Đối với kiểm soát ô nhiễm, bảo tồn hệ sinh thái, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh phải chuyển từ xử lý sang phòng ngừa. Sức chịu tải phải trở thành điều kiện pháp lý, không chỉ là bản đồ kỹ thuật; nếu không đạt ngưỡng thì không cấp phép, gia hạn. Đồng thời, cần có chính sách ưu đãi, hỗ trợ vượt trội trên biển, bảo đảm nội luật hóa và phù hợp với các điều ước quốc tế.

ttxvn-2209-uy-ban-thuong-vu-quoc-hoi-11.jpg
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Khẳng định lần sửa đổi này là đúng thời điểm, phù hợp với chủ trương của Bộ Chính trị, Trung ương về quản lý tài nguyên biển, đảo, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu dự thảo phải trả lời rõ những vấn đề cốt lõi: quyền sử dụng biển có trở thành tài sản pháp lý sạch hay không; Quy hoạch không gian biển có "thắng" giấy phép ngành hay không; dữ liệu biển có thực sự được mở, dùng chung hay tiếp tục cát cứ, chia cắt; chỗ đứng pháp lý của cộng đồng ven biển được xác định như thế nào.

Cắt giảm mạnh đối tượng phải đánh giá tác động môi trường

Trong phiên họp sáng 22/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

Đáng chú ý, nhiều quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường đã được sửa đổi, bổ sung.

Cụ thể, về đánh giá sơ bộ tác động môi trường giảm từ 3 xuống 2 nhóm tiêu chí môi trường và giao Chính phủ quy định chi tiết; đơn giản hóa phân loại dự án từ 4 xuống 3 nhóm; cắt giảm mạnh đối tượng phải đánh giá tác động môi trường, bổ sung thêm nhiều đối tượng được miễn đánh giá tác động môi trường và chuyển một số đối tượng sang đăng ký môi trường.

Dự thảo Luật đơn giản hóa nội dung báo cáo và trình tự thẩm định đánh giá tác động môi trường, phân định rõ thẩm quyền thẩm định; giao Chính phủ quy định phạm vi, hiệu lực của quyết định phê duyệt kết quả thẩm định đánh giá tác động môi trường để tránh chồng chéo với các công cụ quản lý khác.

Về giấy phép môi trường, dự thảo Luật cắt giảm mạnh đối tượng phải có giấy phép môi trường theo hướng chấp nhận rủi ro có kiểm soát, chuyển từ "tiền kiểm" sang tăng cường "hậu kiểm;" đơn giản hóa nội dung, hồ sơ cấp phép, kéo dài thời hạn giấy phép môi trường đối với một số đối tượng và phân quyền cấp phép cho địa phương.

Báo cáo tóm tắt thẩm tra sơ bộ, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết dự thảo Luật đã cải cách, đơn giản hóa phân loại dự án theo tiêu chí môi trường thành 3 nhóm thay vì 4 nhóm như quy định hiện hành, gắn với việc thu hẹp mạnh mẽ đối tượng phải thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Tuy vậy, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục rà soát, liệt kê cụ thể, định lượng rõ ràng tất cả các yếu tố nhạy cảm trực tiếp trong Luật để người dân và doanh nghiệp tự tra cứu chính xác, ngăn ngừa tình trạng tùy tiện áp dụng trong thực tiễn. Cùng với đó là nghiên cứu giao Chính phủ quy định danh mục chi tiết các dự án phải đánh giá tác động môi trường, các dự án phải cấp giấy phép môi trường, các dự án chỉ phải đăng ký môi trường.

Về đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường, Thường trực Ủy ban cho rằng đây là quy định cải cách quan trọng nhằm khắc phục tình trạng còn nặng về tiền kiểm, chưa hiệu quả trong hậu kiểm; đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát kỹ việc miễn đánh giá tác động môi trường đối với dự án thứ cấp trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, cần thiết phải phân loại chi tiết trong nhóm dự án này để xác định loại dự án có lưu lượng khí thải lớn vẫn phải thực hiện đánh giá tác động môi trường để quản lý chặt chẽ nguồn phát sinh khí thải lớn.

ttxvn-2209-uy-ban-thuong-vu-quoc-hoi-6.jpg
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh phát biểu. (Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN)

Cho ý kiến về nội dung này, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh cơ bản tán thành việc sửa đổi theo hướng đơn giản hóa phân loại dự án đầu tư (từ 4 nhóm xuống 3 nhóm) đồng thời thu hẹp đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường. Đây là nội dung cải cách lớn góp phần giảm thủ tục đối với các dự án có mức độ rủi ro môi trường thấp.

Tuy nhiên, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị tiếp tục rà soát sự thống nhất giữa Điều 28 về tiêu chí môi trường để phân loại dự án đầu tư, Điều 30 về đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường, Điều 39 về đối tượng phải có giấy phép môi trường và Điều 49 về đăng ký môi trường. Theo đó, cần xác định rõ tương ứng với từng nhóm dự án, trường hợp nào phải thực hiện đánh giá tác động môi trường, trường hợp nào phải có giấy phép môi trường, trường hợp nào chỉ đăng ký môi trường, tránh khoảng trống hoặc chồng chéo trong thực hiện. Các tiêu chí phải đủ rõ, có khả năng áp dụng thống nhất trong thực tế.

Phó Chủ tịch Quốc hội yêu cầu rà soát kỹ quy định tại điểm c khoản 2 Điều 30 về trường hợp dự án thứ cấp trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp không phải thực hiện đánh giá tác động môi trường; làm rõ điều kiện áp dụng nhất là yêu cầu đối với hạ tầng bảo vệ môi trường của khu, cụm công nghiệp và việc kiểm soát đối với dự án có nguồn thải lớn, xử lý chất thải nguy hại nhập khẩu phế liệu.

Sáng 22/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã cho ý kiến về dự án Luật Giao dịch hàng hóa phái sinh./.

(TTXVN/Vietnam+)
Tiếp tục chương trình Phiên họp thứ 6, sáng 22/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi, với trọng tâm hoàn thiện mô hình quản trị biển hiện đại. Dự thảo được kỳ vọng tạo khung pháp lý thống nhất hơn cho quản lý tài nguyên, không gian biển, bảo vệ môi trường, đồng thời phân định rõ trách nhiệm giữa các chủ thể liên quan. Nội dung thảo luận cho thấy yêu cầu cấp thiết là xử lý hài hòa giữa phát triển kinh tế biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo tồn hệ sinh thái và quyền lợi cộng đồng. Trình bày Tờ trình, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết dự thảo Luật gồm 6 chương, 76 điều, quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển, bảo vệ môi trường biển và hải đảo. Dự thảo cũng xác định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến các hoạt động khai thác, sử dụng và bảo vệ biển. Điểm mới đáng chú ý là việc bổ sung chế định quản lý, sử dụng không gian biển, cùng cơ chế giải quyết chồng lấn, xung đột giữa những ngành, lĩnh vực đang cùng hoạt động trên biển. Dự thảo đề cập việc phân định trách nhiệm quản lý hành chính trên biển, quản lý công trình trên biển, đồng thời bổ sung cơ chế xác lập và thực hiện quyền sử dụng khu vực biển. Việc thực hiện quyền này phải bảo đảm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch, phù hợp các yêu cầu về quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Những quy định mới hướng tới tạo nền tảng pháp lý rõ ràng hơn, giúp hoạt động đầu tư, khai thác tài nguyên và bảo vệ biển được triển khai có trật tự. Theo Báo cáo thẩm tra sơ bộ do Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Nguyễn Thanh Hải trình bày, cơ quan thẩm tra cơ bản tán thành việc mở rộng phạm vi điều chỉnh sang quản lý, sử dụng không gian biển. Tuy nhiên, Thường trực Ủy ban đề nghị bổ sung cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển các hoạt động kinh tế sử dụng không gian biển vào dự thảo Luật. Cơ quan này cũng yêu cầu làm rõ nguyên tắc áp dụng pháp luật, tránh tình trạng quản lý tổng hợp làm thay đổi, chồng lấn thẩm quyền chuyên ngành hoặc phát sinh thủ tục hành chính không cần thiết. Đối với chính sách và nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển, bảo vệ môi trường biển tại Điều 4 và Điều 5, Thường trực Ủy ban cơ bản tán thành các nội dung dự thảo. Dù vậy, các nguyên tắc cốt lõi cần được diễn đạt cụ thể hơn, nhất là yêu cầu điều phối liên ngành và xử lý xung đột trong khai thác, sử dụng tài nguyên, không gian biển. Quản lý tổng hợp phải hỗ trợ phối hợp giữa các lĩnh vực, nhưng không được thay thế thẩm quyền quản lý vốn đã được xác lập trong pháp luật chuyên ngành. Việc phân bổ không gian biển, theo cơ quan thẩm tra, cần tôn trọng các quyền hợp pháp đã được xác lập, bảo đảm quyền tiếp cận biển của cộng đồng và quyền hợp pháp của các quốc gia khác. Các nguyên tắc này phải phù hợp Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, còn gọi là UNCLOS 1982, nhằm bảo đảm tính thống nhất giữa pháp luật trong nước và nghĩa vụ quốc tế. Cách tiếp cận đó giúp hoạt động quản lý biển vừa đáp ứng yêu cầu phát triển, vừa giữ vững tính minh bạch, ổn định và trách nhiệm. Phát biểu tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh đây là dự án Luật rất quan trọng, bởi lần sửa đổi này không chỉ dừng ở việc chỉnh sửa một số điều khoản. Theo Chủ tịch Quốc hội, dự án cần đổi mới mô hình quản trị biển, tập trung vào bốn vấn đề lớn gồm pháp lý, quản trị, kinh tế biển và môi trường. Về quản lý không gian biển, ông yêu cầu giữ nguyên tắc quản lý cột nước, đáy biển, lòng đất dưới đáy biển, đồng thời xây dựng cơ chế xử lý chồng lấn giữa nhiều lĩnh vực. Những lĩnh vực được nêu gồm dầu khí, điện gió, nuôi biển, hàng hải, quốc phòng và bảo tồn, bên cạnh yêu cầu quy định việc sử dụng đa mục đích, sử dụng chung và phân định trách nhiệm quản lý hành chính trên biển. Chủ tịch Quốc hội đề nghị định nghĩa rõ “không gian biển” ngay trong Luật, tránh cách hiểu khác nhau hoặc va chạm với Luật Quy hoạch, Luật Điện lực, Luật Dầu khí 2026, Luật Địa chất và Khoáng sản. Ông cũng yêu cầu cơ chế xử lý xung đột, thứ tự ưu tiên phải minh bạch, bắt đầu từ quốc phòng, an toàn hàng hải, hệ sinh thái nhạy cảm, hạ tầng chiến lược đến phát triển kinh tế, đồng thời chuyển trọng tâm bảo vệ môi trường từ xử lý sang phòng ngừa, để sức chịu tải trở thành căn cứ quan trọng trong quản lý.