IELTS 6.0 được các đại học tính ra 26 mức điểm cộng khiến hàng loạt em đỗ với điểm gốc thấp hơn điểm chuẩn, gây bất bình đẳng, Bộ Giáo dục và Đào tạo nói cần điều chỉnh ngay.
GS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Giáo dục đại học, ngày 21/9 cho biết theo dữ liệu tuyển sinh năm 2026, cả nước có hơn 37.300 thí sinh sử dụng chứng chỉ tiếng Anh để được cộng điểm. Trong đó, hơn 35.900 em dùng IELTS.
IELTS 6.0 là mức phổ biến nhất với hơn 8.300 em đạt được, nhưng các trường quy đổi thành 26 mức điểm cộng. Ông Thảo không nêu chi tiết hơn. Thực tế, các trường có cách tính điểm cộng khác nhau. Ví dụ, với IELTS 6.0, Đại học Luật Hà Nội cộng 0,5 điểm vào tổng điểm xét tuyển, Y Hà Nội tính 0,75, Đại học Thương mại, Sư phạm Huế cộng 1 điểm, trong khi Đại học Bách khoa Hà Nội tính 3/100.
Ngoài ra, theo ông Thảo, ở nhóm ngành thuộc top 5% điểm chuẩn cao (từ 26,09/30 điểm trở lên), hơn 30% tân sinh viên có điểm cộng. Nhiều ngành lấy điểm chuẩn khoảng 28 nhưng cho cộng tới 1,5 điểm chứng chỉ khiến không ít em điểm thấp đỗ, còn hàng nghìn thí sinh đạt 26,5-28 điểm lại trượt.
Tính riêng ba phương thức, gồm xét điểm thi tốt nghiệp THPT, xét học bạ và kết hợp điểm thi tốt nghiệp với học bạ, hơn 51% thí sinh có điểm gốc thấp hơn điểm chuẩn, đỗ nhờ điểm cộng.
"Các con số này cho thấy điểm cộng có thể trở thành yếu tố quyết định kết quả ở các ngành cạnh tranh cao, tạo sự bất bình đẳng trong tuyển sinh", ông Thảo nói. "Đây là vấn đề cấp bách liên quan trực tiếp đến công bằng và cần được điều chỉnh ngay".
Cũng từ dữ liệu, Bộ nhận ra hai cách thức gây bất công liên quan điểm cộng chứng chỉ.
Một là ngành không yêu cầu ngoại ngữ nhưng thí sinh có chứng chỉ tiếng Anh vẫn được cộng điểm. Chẳng hạn, với ngành chỉ xét Toán, Lý, Hóa, một thí sinh có kết quả ba môn cao hơn vẫn có thể trượt trước thí sinh có điểm chuyên môn thấp hơn nhưng được cộng chứng chỉ.
Hai là tổ hợp đã có môn tiếng Anh nhưng chứng chỉ tiếng Anh tiếp tục được dùng để cộng thêm điểm. Khi đó, năng lực ngoại ngữ vừa được phản ánh trong điểm tổ hợp, vừa tạo thêm lợi thế ngoài thang đo.
"Một năng lực được tính hai lần sẽ làm sai lệch thứ tự xét tuyển, đặc biệt ở các ngành có điểm chuẩn cao, nơi chênh lệch rất nhỏ cũng có thể quyết định trúng tuyển hay không", ông Thảo nhìn nhận.
Vì thế, Bộ dự kiến từ năm 2027 sẽ chỉ còn điểm ưu tiên theo khu vực, đối tượng chính sách. Các trường không được sử dụng điểm cộng do mình tự quy định cho thành tích, chứng chỉ hoặc tiêu chí bổ sung.
Ông Thảo chia sẻ tâm lý của phụ huynh và học sinh khi đã đầu tư nghiêm túc cho ngoại ngữ, nhưng khẳng định quyền sử dụng chứng chỉ để chứng minh năng lực ngoại ngữ không bị mất đi; giá trị của việc học tiếng Anh cũng không bị giảm đi.
Nếu ngành đào tạo cần ngoại ngữ, chứng chỉ vẫn được quy đổi để thay thế môn ngoại ngữ. Nếu chương trình giảng dạy bằng ngoại ngữ có yêu cầu đầu vào, chứng chỉ vẫn được dùng để xác nhận thí sinh đáp ứng yêu cầu đó.
"Chúng ta cần nhìn nhận thực chất và xác định việc học tiếng Anh là cần thiết cho quá trình học đại học và nghề nghiệp sau này, hoàn toàn không lãng phí", ông Thảo nói.
Ông cũng nhấn mạnh việc bỏ điểm cộng không phải thay đổi đột ngột về định hướng, mà là bước tiếp theo của lộ trình kiểm soát và chuẩn hóa.
Định hướng của Bộ là một ngành, chương trình có tiêu chí tuyển sinh thống nhất, điểm đầu vào giữa các phương thức tương đương. Vì vậy, từ năm 2023, Bộ đã yêu cầu quy đổi tương đương để giảm chênh lệch; năm 2026 tiếp tục khống chế điểm cộng chứng chỉ tối đa 1,5/30.
Học sinh thi tốt nghiệp tại TP HCM, tháng 6/2026. Ảnh: Quỳnh Trần
Dương Tâm
Theo dữ liệu tuyển sinh năm 2026, hơn 37.300 thí sinh trên cả nước sử dụng chứng chỉ tiếng Anh để được cộng điểm trong quá trình xét tuyển đại học. Trong số này, hơn 35.900 em dùng IELTS, cho thấy chứng chỉ quốc tế đang giữ vai trò đáng kể trong cuộc đua vào những ngành đào tạo có điểm chuẩn cao. IELTS 6.0 là mức phổ biến nhất, với hơn 8.300 thí sinh đạt được, nhưng các trường lại quy đổi thành tới 26 mức điểm cộng khác nhau.
GS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Giáo dục đại học, nêu thực trạng này ngày 21/9 khi trao đổi về dữ liệu tuyển sinh năm 2026. Cùng một mức IELTS 6.0, Đại học Luật Hà Nội cộng 0,5 điểm vào tổng điểm xét tuyển, còn Y Hà Nội áp dụng mức 0,75 điểm. Đại học Thương mại và Sư phạm Huế cộng 1 điểm, trong khi Đại học Bách khoa Hà Nội tính theo cách khác, tương đương 3/100.
Sự khác biệt trong cách quy đổi khiến cùng một chứng chỉ nhưng lợi thế của thí sinh thay đổi đáng kể tùy trường, ngành và phương thức tuyển sinh. Ở những ngành cạnh tranh cao, chỉ vài phần nhỏ điểm số cũng có thể quyết định một hồ sơ bước qua ngưỡng trúng tuyển hay phải dừng lại. Vì vậy, việc tồn tại 26 mức điểm cộng cho IELTS 6.0 được xem là dấu hiệu cho thấy chính sách hiện nay thiếu thống nhất và dễ gây tranh luận về công bằng.
Theo dữ liệu Bộ Giáo dục và Đào tạo phân tích, trong nhóm ngành thuộc top 5% điểm chuẩn cao, từ 26,09/30 điểm trở lên, hơn 30% tân sinh viên có điểm cộng. Không ít ngành có điểm chuẩn khoảng 28 nhưng cho phép cộng tới 1,5 điểm chứng chỉ, tạo khoảng cách đủ lớn giữa các hồ sơ vốn chỉ chênh nhau vài phần điểm. Hệ quả là một số thí sinh có điểm thi thấp hơn vẫn đỗ, trong khi hàng nghìn em đạt 26,5-28 điểm lại không có suất vào ngành mong muốn.
Tính riêng ba phương thức gồm xét điểm thi tốt nghiệp THPT, xét học bạ và kết hợp điểm thi tốt nghiệp với học bạ, hơn 51% thí sinh có điểm gốc thấp hơn điểm chuẩn nhưng vẫn trúng tuyển nhờ điểm cộng. GS Nguyễn Tiến Thảo nhận định những con số này cho thấy điểm cộng có thể trở thành yếu tố quyết định kết quả tại các ngành cạnh tranh cao. Ông cho rằng đây là vấn đề cấp bách, liên quan trực tiếp đến công bằng tuyển sinh và cần được điều chỉnh ngay, theo thông tin VnExpress đăng tải.
Bộ cũng chỉ ra hai tình huống dễ tạo bất công trong việc cộng điểm chứng chỉ tiếng Anh, bắt đầu từ những ngành không yêu cầu ngoại ngữ nhưng vẫn ghi nhận chứng chỉ để cộng thêm. Chẳng hạn, ở ngành chỉ xét Toán, Lý, Hóa, thí sinh có kết quả ba môn cao hơn vẫn có thể trượt trước người có điểm chuyên môn thấp hơn nhưng sở hữu chứng chỉ tiếng Anh. Tình huống thứ hai xảy ra khi tổ hợp đã có môn tiếng Anh, nhưng chứng chỉ tiếp tục được dùng để cộng điểm, khiến cùng một năng lực được tính hai lần.
Theo GS Nguyễn Tiến Thảo, việc một năng lực vừa được phản ánh trong điểm tổ hợp, vừa tạo thêm lợi thế ngoài thang đo có thể làm sai lệch thứ tự xét tuyển. Rủi ro này đặc biệt rõ ở các ngành có điểm chuẩn cao, nơi chênh lệch rất nhỏ giữa hai thí sinh cũng đủ quyết định kết quả cuối cùng. Khi đó, chứng chỉ không chỉ chứng minh năng lực ngoại ngữ mà còn trở thành một lợi thế bổ sung, dù ngành học có thể không cần năng lực ấy ở mức tương ứng.
Từ năm 2027, Bộ dự kiến chỉ còn điểm ưu tiên theo khu vực và đối tượng chính sách, đồng thời không cho các trường tự quy định điểm cộng dành cho thành tích, chứng chỉ hoặc tiêu chí bổ sung. Tuy nhiên, quyền sử dụng chứng chỉ để chứng minh năng lực ngoại ngữ không bị xóa bỏ, bởi ngành đào tạo cần ngoại ngữ vẫn có thể dùng chứng chỉ thay thế môn ngoại ngữ hoặc xác nhận yêu cầu đầu vào. Bộ xem đây là bước tiếp theo của lộ trình kiểm soát, chuẩn hóa tuyển sinh, sau yêu cầu quy đổi tương đương từ năm 2023 và giới hạn điểm cộng chứng chỉ tối đa 1,5/30 trong năm 2026.