Sau chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về việc giảm lãi suất hỗ trợ sản xuất kinh doanh, tới nay đã có hàng chục ngân hàng thương mại công bố giảm lãi suất huy động và cho vay.
Ở khía cạnh lãi cho vay, thống kê có Agribank, BIDV, VietinBank, MB, LPBank, SHB, ACB, TPBank, SeABank, OCB, Nam A Bank, BVBank… đã công bố biểu lãi mới, mức giảm từ 1,5-3%/năm. Theo các chuyên gia, việc lãi suất giảm có tác dụng rất lớn với doanh nghiệp, đặc biệt với đơn vị đang vay nhiều.
Chia sẻ với Dân trí, chuyên gia tài chính cá nhân Lâm Minh Chánh, Chủ tịch Học viện BizUni, Nhà sáng lập AI tài chính WikiMoney, lấy ví dụ: một doanh nghiệp doanh thu 100 tỷ đồng/năm, có lợi nhuận trước lãi vay và thuế 10 tỷ đồng, vay ngân hàng 50 tỷ đồng với lãi suất 12%/năm, thì tiền lãi đã là 6 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế còn 4 tỷ đồng. Nếu lãi suất giảm xuống 9%, tiền lãi còn 4,5 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế tăng lên 5,5 tỷ đồng, tức tăng 37,5%.
Ngược lại, nếu lãi suất tăng lên 20% trong khi các yếu tố khác không đổi, tiền lãi là 10 tỷ đồng, doanh nghiệp không còn lợi nhuận trước thuế.
Dù vậy, câu hỏi đặt ra là liệu mặt bằng lãi suất có giảm một cách bền vững không, trong bối cảnh thanh khoản vẫn còn căng thẳng như hiện nay?
Khi nào lãi suất lập mặt bằng mới thấp hơn?
Ông Chánh dự báo trước mắt, lãi suất của một số khoản vay có thể giảm theo các biện pháp đang triển khai. Tuy nhiên, năm 2027 mới là thời gian có thể kỳ vọng mặt bằng lãi suất bớt căng thẳng, nhưng đó là kịch bản có điều kiện, không phải lời hứa về thời điểm.

Chuyên gia tài chính Lâm Minh Chánh (Ảnh: IT).
Ba điều kiện để lãi suất giảm bền vững từ năm sau, theo chuyên gia, trước hết là tín dụng và nguồn huy động tăng với tốc độ phù hợp hơn trong nhiều quý. Thứ hai, dự án chậm tiến độ được tháo gỡ pháp lý, bán được hàng hoặc xử lý nợ thực chất; đồng thời thị trường cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp cung cấp được thêm vốn dài hạn, giảm sự phụ thuộc vào ngân hàng. Cuối cùng, lạm phát và tỷ giá đủ ổn định để chính sách tiền tệ có thêm dư địa.
Theo công bố của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản vay mới và dư nợ hiện hữu của các ngân hàng ở mức 8,4-10,9%/năm, tăng 0,2 điểm phần trăm so với tháng trước. So với cuối năm ngoái, mặt bằng lãi suất cho vay đã tăng 1,7-1,9 điểm phần trăm
Ngược lại, nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn huy động vốn, dự án thu hồi tiền chậm hoặc lạm phát, tỷ giá chịu sức ép, lãi suất có thể neo cao lâu hơn.
Ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright, đánh giá việc hạ lãi suất để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong bối cảnh hiện nay là một nỗ lực cực kỳ lớn của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn còn lớn.
Vị này phân tích, tình hình lãi suất phụ thuộc vào cung - cầu tiền. Trong bối cảnh hiện nay, thách thức đặt ra là cung tiền có hạn mà nhu cầu tăng nhanh. Cụ thể, tỷ lệ tiền tiết kiệm hiện chiếm 37% GDP, mức tăng đang thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ đầu tư trên GDP (đã tăng từ mức 20-32% GDP lên 35-40% GDP).
Việc đẩy nhanh các dự án hạ tầng, dự án trọng điểm đang hút một lượng lớn vốn, dẫn đến thanh khoản cho vay của hệ thống ngân hàng giảm đi. Trong khi đó, mặt bằng lãi suất thế giới tăng cao cũng gây ra áp lực cho Ngân hàng Nhà nước trong cạnh tranh nhằm thu hút lượng tiền gửi, dòng vốn quốc tế về trong nước.
Ba việc doanh nghiệp cần làm ngay nếu đang vay nhiều
Với doanh nghiệp, chuyên gia nêu ba việc phải làm ngay. Thứ nhất, lập kế hoạch dòng tiền trả cả gốc lẫn lãi từng tháng và thử kịch bản lãi suất cao hơn hai điểm phần trăm.
Thứ hai, rà soát hàng tồn kho, công nợ phải thu, bởi thu được tiền về sớm đôi khi tốt hơn chờ giảm lãi vay. Thứ ba, làm việc sớm với ngân hàng về kỳ hạn và lịch trả nợ, kể cả phương án ân hạn nợ gốc nếu phù hợp, nhưng đừng vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn mà chưa có nguồn trả nợ rõ ràng.
“Tôi thường nói với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong cộng đồng CEO Quản trị và Khởi nghiệp: có lợi nhuận chưa chắc đã có tiền, mà không có tiền thì đến hạn vẫn không trả được nợ ngân hàng. Muốn lãi suất giảm bền vững, không chỉ cần ngân hàng có thêm tiền để cho vay, mà còn phải làm cho đồng vốn đã cho vay được sử dụng hiệu quả, tạo ra dòng tiền và được hoàn trả đúng hạn”, ông Chánh nói.

Ông Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright (Ảnh: Tri Túc).
Ông Tuấn cũng khuyên doanh nghiệp khi tiếp cận vay thì đặc biệt tìm hiểu về khái niệm “lãi suất hiệu dụng”, tức không chỉ nên tập trung quá vào con số lãi suất hàng năm bao nhiêu %, hay ngân hàng nào giảm nhiều điểm %, mà phải chú ý cả cách tính lãi.
“Cùng một mức lãi nhưng nếu cách tính lãi khác nhau thì chi phí vốn doanh nghiệp bỏ ra sẽ khác nhau. Do đó, chỉ có lãi suất hiệu dụng mới tác động đến dòng tiền kinh doanh của doanh nghiệp, đây là điều nhà quản trị cần lưu ý”, ông Tuấn nói.
Doanh nghiệp không thể chờ đợi hỗ trợ mãi
Cùng với đó, với những đơn vị đang có khoản vay hiện hữu ở mức cao thì phương án tái cấu trúc vốn là quan trọng. Chuyên gia khuyến cáo doanh nghiệp có thể chuyển nợ từ nợ lãi suất cao và sắp sang giai đoạn thả nổi qua một khoản vay mới với lãi cố định. Một số ngân hàng Việt Nam hiện đã có công cụ tài chính phái sinh dạng "Swap" (Hợp đồng hoán đổi lãi suất - Interest Rate Swap, viết tắt là IRS), hoặc mua bảo hiểm cho các khoản vay…
Doanh nghiệp cũng có thể cân nhắc dùng “lãi thương mại”, ví dụ đàm phán kéo dài thời gian thanh toán với đối tác. “Ai đang dùng đòn bẩy lớn sẽ như "ngồi trên đống lửa", vì lãi suất dù hạ thì dự báo vẫn neo ở mức cao. Doanh nghiệp trong nước, đặc biệt nhóm vừa và nhỏ (SME) phải học cách phòng vệ rủi ro chứ không nên chỉ ngồi đợi Ngân hàng Nhà nước cứu mãi. Nhìn từ thế giới, doanh nghiệp nước họ khi đi vay cũng tự phòng vệ bằng cách áp dụng công cụ phái sinh chứ không hề chờ đợi Chính phủ”, ông Tuấn nhấn mạnh.
Dưới góc độ doanh nghiệp, ông Bùi Minh Nhựt - Giám đốc công ty Cổ Phần Đầu Tư Thương Mại Luminous - chia sẻ doanh nghiệp của ông đang dùng tốc độ triển khai công trình để nhanh thu hồi vốn từ doanh thu bán sản phẩm. Tại dự án đang triển khai của Luminous, các chi phí cho nguồn vốn đã được tính toán và chuẩn bị đầy đủ, chặt chẽ. Nhờ đó, chủ đầu tư kỳ vọng sẽ không bị ảnh hưởng nhiều bởi lãi suất tăng, tình hình vĩ mô hiện nay.