Nghị định quy định mức phạt tiền đối với cá nhân bằng 1/2 lần mức phạt tiền đối với tổ chức cho cùng hành vi vi phạm. Trong đó, mức phạt tiền đối với cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh xổ số tối đa là 100 triệu đồng, đối với tổ chức tối đa là 200 triệu đồng.
Cụ thể, kinh doanh xổ số không có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh bị phạt từ 80-200 triệu đồng; tổ chức nếu thực hiện kinh doanh xổ số không đúng địa bàn bị phạt tiền từ 20-40 triệu đồng.
Một người bán vé số dạo (Ảnh: Phạm Nguyễn).
Nghị định quy định phạt tiền từ 60-100 triệu đồng đối với cá nhân có hành vi cạo sửa, tẩy xóa vé xổ số dưới mọi hình thức để tham gia dự thưởng và lĩnh thưởng. Đặc biệt, phạt tiền từ 80-100 triệu đồng đối với cá nhân có hành vi làm giả vé xổ số dưới mọi hình thức để tham gia dự thưởng và lĩnh thưởng.
Liên quan đến vi phạm bí mật thông tin của khách hàng trúng thưởng, Nghị định quy định phạt tiền từ 10-20 triệu đồng đối với tổ chức có hành vi trả thưởng cho những vé xổ số không đáp ứng đủ điều kiện trả thưởng theo quy định của pháp luật.
Với hành vi cố tình kéo dài thời gian trả thưởng cho khách hàng trúng thưởng, tiêu hủy vé xổ số trúng thưởng đã trả thưởng nhưng lưu trữ chưa đủ thời gian quy định sẽ bị phạt tiền từ 20-40 triệu đồng. Phạt tiền từ 40-60 triệu đồng đối với tổ chức có hành vi vi phạm bí mật thông tin trả thưởng của khách hàng trúng thưởng.
Về vi phạm về phòng, chống rửa tiền trong lĩnh vực kinh doanh xổ số, số tiền bị phạt cao nhất lên tới 200 triệu đồng. Cụ thể, phạt tiền từ 130-150 triệu đồng đối với hành vi thiết lập hoặc duy trì tài khoản vô danh hoặc tài khoản sử dụng tên giả; cung cấp trái phép dịch vụ nhận tiền mặt, séc, công cụ tiền tệ khác và thực hiện thanh toán cho người thụ hưởng.
Ngoài hình thức phạt tiền, Nghị định còn quy định các hình thức xử phạt bổ sung gồm: Đình chỉ hoạt động kinh doanh xổ số có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính và phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm...
Nghị định trên có hiệu lực từ ngày 30/11.