Với lợi thế về điều kiện sinh thái, vùng nguyên liệu và tiềm năng thị trường, Lào Cai xác định dược liệu và quế là hai nhóm cây trồng chủ lực cần ưu tiên phát triển theo hướng công nghệ cao, chế biến sâu và liên kết chuỗi.
Việc đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sẽ được triển khai xuyên suốt từ khâu giống, vùng nguyên liệu, sản xuất, bảo quản, chế biến đến truy xuất nguồn gốc, logistics và thị trường, từng bước nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm địa phương.
Từ định hướng đó, Ủy ban Nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 467/KH-UBND “Ứng dụng các công nghệ mới để phát triển nông nghiệp công nghệ cao và công nghiệp chế biến sâu dược liệu và cây trồng chủ lực của tỉnh Lào Cai."
Đưa khoa học, công nghệ vào từng khâu của chuỗi giá trị
Lào Cai xác định ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của ngành dược liệu và các cây trồng chủ lực. Trọng tâm là hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, chuẩn hóa vùng nguyên liệu, nâng cao năng lực chế biến và xây dựng các chuỗi sản xuất-chế biến-tiêu thụ có doanh nghiệp dẫn dắt.
Các sản phẩm có lợi thế như sâm, tam thất, quế, hồi, atiso và một số dược liệu bản địa sẽ được lựa chọn trên cơ sở điều kiện sinh thái, quy mô vùng nguyên liệu, khả năng chế biến và nhu cầu thị trường. Quan điểm xuyên suốt là công nghệ phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, hợp tác xã và thị trường; ưu tiên những công nghệ có khả năng ứng dụng, từng bước làm chủ, chuyển giao và nhân rộng, hạn chế đầu tư dàn trải hoặc chạy theo thiết bị.
Trong phát triển vùng nguyên liệu, tỉnh tập trung ứng dụng công nghệ để chủ động nguồn giống, nâng cao chất lượng giống và chuẩn hóa quy trình sản xuất. Các loài dược liệu có giá trị được ưu tiên bảo tồn, tuyển chọn, hoàn thiện quy trình nhân giống; đồng thời chuyển giao các quy trình sản xuất giống công nghệ cao, quy trình canh tác tiên tiến gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và hợp tác xã.
Các vùng nguyên liệu trọng điểm sẽ được rà soát, lựa chọn để xây dựng mô hình sản xuất tập trung, áp dụng các tiêu chuẩn phù hợp như GAP, hữu cơ hoặc GACP-WHO theo yêu cầu của sản phẩm và thị trường. Việc cấp mã số vùng trồng, xây dựng hồ sơ số và truy xuất nguồn gốc được thực hiện gắn với doanh nghiệp thu mua, cơ sở chế biến và tiêu thụ sản phẩm.
Cùng với đó, các cơ sở nghiên cứu, sản xuất giống hiện có được cải tạo, nâng cấp và phát huy hiệu quả, từng bước nâng cao năng lực nghiên cứu, khảo nghiệm, nhân giống và chuyển giao giống chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển vùng nguyên liệu.
Đối với cây quế, chuyển đổi số được đẩy mạnh trong nhận diện sâu bệnh, hướng dẫn phòng trừ, quản lý vùng nguyên liệu và truy xuất nguồn gốc. Người dân sẽ được hỗ trợ tiếp cận các công cụ số để chụp ảnh, nhận diện sâu bệnh và tra cứu biện pháp xử lý phù hợp. Thông tin về vùng nguyên liệu quế hữu cơ, rừng được quản lý bền vững và mã số vùng trồng được quản lý trên hệ thống iT-wood.
Mục tiêu đến năm 2030, khoảng 2.000 ha quế được cấp mới mã số vùng trồng và cập nhật trên hệ thống iT-wood. Đồng thời, khoa học, công nghệ được gắn với phát triển dược liệu quý dưới tán rừng, phấn đấu hình thành khoảng 100 ha vùng dược liệu với các loài có giá trị như thất diệp nhất chi hoa, đảng sâm Việt Nam, hoàng tinh, sâm Lai Châu, sâm Ngọc Linh... phù hợp với điều kiện sinh thái, quy định pháp luật và khả năng phát triển thị trường.
Nếu vùng nguyên liệu là nền tảng thì chế biến sâu được xác định là khâu tạo ra giá trị gia tăng và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. Tỉnh sẽ đánh giá hiện trạng công nghệ tại các doanh nghiệp, hợp tác xã, xác định những công đoạn còn hạn chế về năng suất, chất lượng, thời gian sản xuất, tiêu hao năng lượng và tổn thất nguyên liệu.
Trên cơ sở đó, nghiên cứu, thử nghiệm và tối ưu các thông số công nghệ trong sơ chế, bảo quản, chiết xuất, tinh chế và chế biến sâu dược liệu, quế và cây trồng chủ lực. Công nghệ được lựa chọn phải phù hợp với quy mô vùng nguyên liệu, năng lực vận hành của cơ sở sản xuất và yêu cầu của thị trường; ưu tiên giải pháp giúp nâng cao tỷ lệ sử dụng nguyên liệu, ổn định chất lượng hoạt chất, kéo dài thời gian bảo quản, giảm tổn thất, tiết kiệm năng lượng và tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Đến năm 2030, phấn đấu có các quy trình, công nghệ chế biến dược liệu và chế biến quế được nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng thực tế tại doanh nghiệp, hợp tác xã, từng bước hình thành năng lực chế biến sâu ngay tại địa phương.
Hình thành chuỗi giá trị hiện đại, lấy doanh nghiệp và thị trường làm trung tâm
Từ nền tảng vùng nguyên liệu và công nghệ chế biến, Lào Cai sẽ lựa chọn một số chuỗi giá trị ưu tiên có doanh nghiệp dẫn dắt, vùng nguyên liệu rõ ràng, hợp đồng liên kết và phương án tiêu thụ cụ thể để tập trung nguồn lực. Công nghệ số được ứng dụng xuyên suốt quá trình sản xuất, từ quản lý vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng đến truy xuất nguồn gốc và kết nối thị trường.
Từng bước hình thành hồ sơ số cho sản phẩm, đồng bộ dữ liệu từ vùng trồng, cơ sở sản xuất đến chế biến và thị trường. Cùng với đó là phát triển hệ thống logistics phù hợp với đặc thù dược liệu và nông sản, chú trọng sơ chế sau thu hoạch, kho mát, kho lạnh, đóng gói, bảo quản và vận chuyển.
Các yêu cầu về mã số vùng trồng, tiêu chuẩn chất lượng, kiểm nghiệm, bao bì, nhãn hàng hóa và thủ tục xuất khẩu được tính toán ngay từ khâu tổ chức vùng nguyên liệu. Thương mại điện tử, xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, kết nối thị trường trong nước, xuất khẩu và thương mại xuyên biên giới được đẩy mạnh, trong đó tăng cường huy động nguồn lực doanh nghiệp đối với những hoạt động có khả năng thương mại hóa.
Để công nghệ thực sự phát huy hiệu quả, Lào Cai chú trọng đào tạo và nâng cao năng lực làm chủ công nghệ cho doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân. Nội dung tập huấn tập trung vào quy trình sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng, GAP, hữu cơ, GACP-WHO, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, chế biến và phát triển sản phẩm OCOP. Các tài liệu điện tử, quy trình kỹ thuật trực quan và nội dung hướng dẫn trên nền tảng số sẽ được xây dựng, cùng với các hoạt động truyền thông, tập huấn và phiên chợ khuyến nông số.
Mỗi nhiệm vụ ứng dụng công nghệ phải xác định rõ đơn vị tiếp nhận, vận hành, đào tạo nhân lực và cơ chế duy trì sau khi kết thúc hỗ trợ, bảo đảm công nghệ được làm chủ và có khả năng nhân rộng. Quá trình triển khai thực hiện theo phương châm “Nhà nước kiến tạo-doanh nghiệp làm trung tâm-hợp tác xã tổ chức sản xuất-người dân là chủ thể-viện, trường và tổ chức khoa học và công nghệ đồng hành."
Ngân sách nhà nước tập trung cho điều tra, nghiên cứu ứng dụng, thử nghiệm, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn hóa, xây dựng dữ liệu và các mô hình có tính lan tỏa. Doanh nghiệp, hợp tác xã tập trung nguồn lực đối ứng cho vùng nguyên liệu, dây chuyền sản xuất, kho bãi, vận hành và thương mại hóa. Các nguồn lực từ khoa học và công nghệ, chuyển đổi số, khuyến nông, xúc tiến thương mại, các chương trình mục tiêu và nguồn vốn hợp pháp khác được tăng cường lồng ghép, đồng thời kế thừa, chia sẻ dữ liệu và hạ tầng hiện có, hạn chế đầu tư trùng lặp.
Các nhiệm vụ được triển khai theo nguyên tắc “sáu rõ”: rõ việc, rõ người, rõ thời gian, rõ phương pháp, rõ nguồn lực và rõ sản phẩm đầu ra, gắn với các chỉ tiêu cụ thể về năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng, mức độ làm chủ công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa, khả năng thương mại hóa và nhân rộng.
Đến năm 2030, Lào Cai phấn đấu tối thiểu 70% sản phẩm chủ lực thuộc phạm vi kế hoạch được cấp mã số vùng trồng và có hồ sơ số phục vụ truy xuất nguồn gốc; tối thiểu 40% sản phẩm tham gia hệ thống truy xuất nguồn gốc; giá trị sản phẩm bình quân của các vùng, mô hình và chuỗi giá trị được lựa chọn tăng khoảng 2 lần so với năm 2026.
Tỉnh định hướng phát triển thành 5 trọng tâm công nghệ: công nghệ giống và sản xuất; công nghệ số; công nghệ chế biến sâu; công nghệ bảo quản, logistics và thương mại; công nghệ quản trị chuỗi. Đây cũng là những khâu có tính liên kết chặt chẽ, tạo thành hệ sinh thái từ vùng nguyên liệu đến thị trường, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm của quá trình đổi mới công nghệ và thương mại hóa sản phẩm.
Với cách tiếp cận lấy bài toán thực tiễn, doanh nghiệp và thị trường làm trung tâm, việc ứng dụng công nghệ mới sẽ không dừng ở đầu tư thiết bị hay xây dựng mô hình đơn lẻ mà hướng tới hình thành các vùng nguyên liệu công nghệ cao, nâng cao năng lực chế biến sâu và xây dựng chuỗi giá trị đồng bộ. Qua đó, Lào Cai từng bước khai thác hiệu quả lợi thế về dược liệu, quế và các cây trồng chủ lực, nâng cao giá trị gia tăng, thu nhập của người dân và sức cạnh tranh của sản phẩm.
Đây cũng là bước cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đưa khoa học và công nghệ trở thành động lực trực tiếp của phát triển sản xuất, góp phần hình thành những ngành hàng có giá trị cao, tạo nền tảng cho tăng trưởng xanh, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Lào Cai trong giai đoạn mới./.
(Vietnam+)