Sức hút cần song hành giá trị
Với di sản, lượng khách tăng là tín hiệu tích cực, nhưng nếu vượt quá khả năng tiếp nhận, tác động ngược có thể xuất hiện. Áp lực lên cảnh quan, môi trường, hạ tầng và không gian văn hóa sẽ gia tăng; trải nghiệm của du khách cũng có thể giảm sút. Khi đó, thành công về số lượng chưa chắc đồng nghĩa với hiệu quả về bảo tồn và phát huy giá trị.
Điều tương tự có thể thấy trong các hoạt động sáng tạo. Hoa văn truyền thống được đưa vào sản phẩm thiết kế có thể giúp công chúng trẻ biết đến chất liệu văn hóa. Nghi lễ được chuyển tải bằng hình thức trình diễn có thể tạo sự quan tâm đối với di sản. Trò chơi, ứng dụng số hay sản phẩm lưu niệm có thể mở thêm cách tiếp cận với lịch sử và văn hóa. Cách làm cần được khuyến khích, nhưng hiệu quả vẫn quay về câu chuyện giá trị nào của di sản được chuyển tải, mức độ chính xác ra sao và sau hoạt động, công chúng có thêm hiểu biết hay không.
Cần phân biệt giữa sức hút của hoạt động và giá trị mà hoạt động tạo ra cho di sản. Cách đánh giá này càng cần thiết khi di sản ngày càng tham gia sâu vào phát triển du lịch và các ngành công nghiệp văn hóa. Đây cũng là điểm bắt đầu để nhận diện khoảng trống giữa sáng tạo và bảo tồn. Bởi khi di sản trở thành chất liệu của những hình thức mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là làm sao để công chúng quan tâm hơn, mà còn là làm sao để sự quan tâm ấy dẫn tới hiểu biết, sự trân trọng và hành động tiếp nối.
PGS, TS, nhà nghiên cứu dân tộc học Bùi Xuân Đính lưu ý, sáng tạo trên nền di sản không có nghĩa là tùy ý biến đổi. Mỗi sản phẩm cần có một “kịch bản khoa học”, dựa trên sự hiểu biết về nguồn gốc, ý nghĩa và đặc trưng văn hóa truyền thống, tránh những cách tân làm sai lệch giá trị vốn có. Muốn vậy, cần có sự phối hợp giữa nhà nghiên cứu, họa sĩ, nhà thiết kế và nghệ nhân, kết hợp tri thức khoa học với kỹ năng thực hành. Đặc biệt là cần tìm cách đưa sản phẩm đến với đông đảo công chúng, thay vì chỉ dừng lại trong không gian triển lãm.
Sáng tạo cần chạm đến giá trị gốc
Thiếu quá trình tìm hiểu, chất liệu văn hóa rất dễ bị tách khỏi bối cảnh hình thành. Khi đó, cái còn lại có thể chỉ là hình thức bắt mắt, trong khi phần ý nghĩa làm nên giá trị di sản lại bị thu hẹp.
Từ góc độ đó, vấn đề lợi ích cần được đặt song song với vấn đề tham gia. Khi tri thức, kỹ thuật hoặc câu chuyện của một cộng đồng được chuyển hóa thành sản phẩm có giá trị kinh tế, cần làm rõ vai trò của người nắm giữ tri thức và cách thức chia sẻ lợi ích. Nếu người sáng tạo, doanh nghiệp hoặc đơn vị tổ chức là bên hưởng lợi chủ yếu, trong khi cộng đồng chỉ cung cấp chất liệu, mối liên hệ giữa sáng tạo và bảo tồn sẽ thiếu nền tảng bền vững. Ngược lại, khi cộng đồng có thu nhập, có việc làm và có động lực truyền nghề, giá trị kinh tế có thể trở thành một nguồn lực hỗ trợ cho bảo tồn.
Khoảng trống giữa sáng tạo và bảo tồn còn nằm ở năng lực quản lý. Di sản có giới hạn về sức chịu tải. Một di tích không thể tiếp nhận vô hạn các hoạt động, lượng khách và hình thức khai thác. Một không gian văn hóa nếu liên tục được tổ chức sự kiện mà thiếu đánh giá tác động có thể chịu áp lực về cảnh quan, môi trường và cấu trúc vật chất.
Ở đây, bảo tồn không nên được hiểu là giữ nguyên di sản trong trạng thái bất biến. PGS, TS Đặng Văn Bài, Phó Chủ tịch Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc gia cho rằng, bảo tồn cần gắn với đổi mới sáng tạo, chuyển từ tư duy “gìn giữ” sang “kiến tạo”, coi di sản là trung tâm của sáng tạo và trải nghiệm, đồng thời bảo đảm cộng đồng được tham gia và thụ hưởng. Quan điểm mở ra cách nhìn cân bằng hơn. Di sản cần được bảo vệ, nhưng bảo vệ không có nghĩa là tách khỏi đời sống. Sáng tạo cần được khuyến khích, nhưng sáng tạo không đồng nghĩa với việc thay đổi tùy ý những giá trị đã được trao truyền.
Còn theo TS, kiến trúc sư Phạm Tuấn Long, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội, trước khi bắt tay vào sáng tạo, cần xác định rõ di sản được khai thác ở giá trị nào, nguồn tư liệu từ đâu, chủ thể nào đang nắm giữ và những yếu tố nào cần được giữ nguyên. Đây cũng là cơ sở để hạn chế tình trạng lấy di sản làm chất liệu đơn thuần. Khi hiểu rõ nguồn gốc và ý nghĩa, người sáng tạo có thể tìm được cách chuyển hóa phù hợp mà vẫn giữ được mối liên hệ với giá trị gốc.
Đừng quên bảo tồn và bảo đảm lợi ích
Một trong những hướng tiếp cận được nhiều chuyên gia đề cập là chuyển từ tư duy bảo tồn tĩnh sang bảo tồn gắn với thực hành và đời sống. Di sản cần được tạo điều kiện để tiếp tục được thực hành, trao truyền, sáng tạo và phát triển trong những điều kiện phù hợp. Cùng với tri thức là vấn đề kết nối nguồn lực. Một ý tưởng được hình thành trong cuộc thi hoặc trại sáng tác mới chỉ là bước khởi đầu. Cần hình thành mạng lưới kết nối giữa nhà nghiên cứu, nghệ nhân, nhà thiết kế, nghệ sĩ, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và cơ quan quản lý. Mỗi chủ thể đảm nhận một khâu, cùng hướng tới mục tiêu đưa giá trị di sản vào đời sống theo cách phù hợp.
Từ thực tiễn phát triển các sản phẩm văn hóa trong không gian làng cổ Đường Lâm (Hà Nội), có thể ghi nhận hướng khai thác dựa trên nguồn lực tại chỗ, trong đó người dân địa phương tham gia vào quá trình tạo sản phẩm và hưởng lợi từ hoạt động phát triển công nghiệp văn hóa. Đây là yếu tố có ý nghĩa đối với tính bền vững.
Cùng với quyền tham gia, cần làm rõ cơ chế chia sẻ lợi ích. Một sản phẩm được tạo ra từ tri thức, kỹ thuật hoặc câu chuyện của cộng đồng cần xác định rõ sự đóng góp của người nắm giữ giá trị, quyền sử dụng và lợi ích mà cộng đồng được hưởng. Đây là vấn đề cần được tính đến sớm trong quá trình phát triển sản phẩm, nhất là khi di sản được đưa vào thị trường.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, yêu cầu về chất lượng dữ liệu cũng cần được đặt lên hàng đầu. Số hóa hiện vật, xây dựng cơ sở dữ liệu, bản đồ số hay ứng dụng công nghệ tương tác có thể mở rộng khả năng tiếp cận di sản. Nhưng dữ liệu phải có nguồn gốc, được kiểm chứng và được đặt trong đúng bối cảnh văn hóa.
Tại Hà Nội, kết nối thị trường đang trở thành một khâu được chú trọng hơn trong phát triển làng nghề. Hội chợ Làng nghề Việt Nam lần thứ 22 diễn ra trong tháng 10 đã đặt trọng tâm vào quảng bá, chuyển đổi số, kết nối thị trường và mở rộng đầu ra cho sản phẩm làng nghề. Đây cũng là hướng cần được tính đến với những sản phẩm mới hình thành từ quá trình hợp tác giữa người trẻ và nghệ nhân.
Ngọc Duy, Phương Lam