Bỏ qua điều hướng

'Mô hình Hormuz' của Trung Quốc ở vùng biển Đông Á

'Mô hình Hormuz' của Trung Quốc ở vùng biển Đông Á
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Những động thái tăng cường sức mạnh các vùng biển ở khu vực Đông Á có thể nằm trong tham vọng của Trung Quốc nhằm kiểm soát các tuyến hàng hải huyết mạch tại đây như cách Iran áp đặt eo biển Hormuz.

Theo phân tích của chuyên gia Harrison Prétat, Phó giám đốc Chương trình minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) thuộc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS, Mỹ), Trung Quốc đang tận dụng cơ hội Mỹ tập trung vào Tây bán cầu và Iran, để thiết lập quyền lực như Iran đối với eo biển Hormuz để áp dụng vào khu vực Đông Á.

Bài học Hormuz đối với Đông Á

Chuyên gia Prétat chỉ ra rằng dù sở hữu sức mạnh quân sự vượt trội, Mỹ vẫn không thành công khi sử dụng biện pháp quân sự để giải quyết việc Iran phong tỏa eo biển Hormuz. "Ngay cả chỉ bằng năng lực hạn chế trong việc tấn công tàu qua lại, Iran đủ sức ngăn cản hầu hết các tàu thương mại hoặc khiến các tàu tuân thủ lộ trình mới và trả phí qua lại eo biển Hormuz do Tehran thiết lập", vị chuyên gia đánh giá.

'Mô hình Hormuz' của Trung Quốc ở vùng biển Đông Á - Ảnh 1.

Tàu hải cảnh Trung Quốc phun vòi rồng vào tàu tiếp tế của Philippines ở Biển Đông hồi năm 2024

Ảnh: Reuters

Nhìn về vùng biển Đông Á, Mỹ cũng chủ yếu dựa vào các biện pháp quân sự để ngăn cản Trung Quốc mở rộng quyền lực kiểm soát trên biển. Lâu nay, hải quân Mỹ tiến hành các hoạt động tự do hàng hải để thách thức các yêu sách hàng hải của Trung Quốc và các nước khác. Những hoạt động này đã thành công trong việc duy trì khả năng điều hướng của quân đội Mỹ ở những khu vực tranh chấp, nhưng không làm giảm bớt nỗ lực của Trung Quốc trong việc can thiệp vào hoạt động điều hướng và kinh tế của các nước láng giềng. Điển hình, dù là một đồng minh theo hiệp ước của Mỹ, nhưng tàu của Philippines liên tục đối mặt với sự cản trở của tàu Trung Quốc vốn nhiều hơn và lớn hơn ở Biển Đông. Dưới áp lực của Bắc Kinh, Manila đã phải tạm dừng phát triển một số mỏ dầu và khí đốt ngoài khơi.

Trong khi đó, Bắc Kinh tận dụng một loạt biện pháp khác nhau với lực lượng hùng hậu bao gồm tàu dân binh, tàu hải cảnh để thiết lập vùng xám. Theo chuyên gia Prétat, về chiến lược lâu dài, Trung Quốc trong 10 năm qua đã tiến hành nhiều biện pháp để kiểm soát các vùng biển ở khu vực như: xây dựng các đảo lớn ở quần đảo Hoàng Sa; triển khai nhiều nền tảng nổi, đồng thời tăng gấp 4 lần số tàu dân binh và tàu hải cảnh để hạn chế hoạt động của Philippines ở xung quanh bãi cạn Scarborough; triển khai lực lượng tuần duyên thường trực theo dõi hoạt động chấp pháp của Hàn Quốc ở Hoàng Hải; tăng cường hoạt động của hải cảnh tại đảo Pratas (Đông Sa) vốn đang do Đài Loan kiểm soát. Đặc biệt, chuyên gia Prétat cho rằng rất đáng quan ngại khi Bắc Kinh tiến hành tuần tra và can thiệp hoạt động qua lại của các tàu thuyền ở vùng biển phía đông của Đài Loan, gây ảnh hưởng không nhỏ đến giao thương.

Mỹ cần thay đổi sách lược?

Ngược lại, chuyên gia Prétat đánh giá các sách lược Mỹ đang áp dụng ở các vùng biển Đông Á chưa hiệu quả. Theo ông, Bộ Ngoại giao Mỹ chỉ phát đi những thông cáo để phản đối trước các sự cố hàng hải riêng lẻ, ở cấp cao, chính quyền nước này gần đây cũng chỉ tập trung vào thương mại mà ít đề cập các vấn đề an ninh với Trung Quốc.

Về hoạt động trên thực địa của Washington thì nổi bật nhất gần đây là điều động 6 tàu tuần tra nhanh của Lực lượng Tuần duyên Mỹ đến vùng tây Thái Bình Dương với tư cách là biệt đội tuần tra nhanh, có căn cứ tại Guam nhưng hoạt động tạm thời từ Singapore và Philippines. "Cách thức này đáng hoan nghênh và có khả năng hỗ trợ các hoạt động của Mỹ đối với hàng hải của châu Á, đặc biệt là hợp tác với đồng minh và đối tác trong khu vực. Cách thức này có ý nghĩa quan trọng, bài học từ Hormuz đã chỉ ra rằng các tàu Mỹ tự thân không thể dễ dàng khắc phục một tuyến hàng hải bị phong tỏa", vị chuyên gia phân tích và cho rằng Washington nên hợp tác với các đối tác, đồng minh ở khu vực Đông Á.

Chuyên gia Prétat nhấn mạnh rằng Washington cần phát đi tín hiệu rõ ràng đến Bắc Kinh là sẵn sàng sử dụng các nguồn lực và phối hợp cùng đồng minh nếu vùng biển khu vực xảy ra khủng hoảng. Không dừng lại ở đó, cấp lãnh đạo cao nhất của Mỹ cũng phải đưa ra thông điệp mạnh mẽ với Trung Quốc về vấn đề an ninh hàng hải. Theo chuyên gia trên, việc Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình sắp thăm Mỹ vào ngày 24.9 tới là cơ hội quan trọng để Tổng thống chủ nhà Donald Trump đề cập vấn đề vừa nêu, chứ không chỉ tập trung vào cuộc cạnh tranh thương mại giữa hai bên. 

TIN LIÊN QUAN
Phân tích của Harrison Prétat, Phó giám đốc Chương trình minh bạch hàng hải châu Á thuộc CSIS, cho rằng Trung Quốc đang tận dụng lúc Mỹ tập trung vào Tây bán cầu và Iran để củng cố quyền lực trên các vùng biển Đông Á. Mục tiêu có thể là tạo ra khả năng chi phối những tuyến hàng hải huyết mạch, tương tự cách Iran gây sức ép tại eo biển Hormuz. Bài học từ Hormuz cho thấy ưu thế quân sự không đồng nghĩa với khả năng bảo đảm tự do hàng hải cho tàu thương mại. Dù năng lực tấn công tàu qua lại còn hạn chế, Iran vẫn có thể khiến phần lớn tàu thương mại tránh tuyến hoặc tuân theo lộ trình và phí qua lại do Tehran đặt ra, trong khi biện pháp quân sự của Mỹ chưa giải quyết được tình trạng phong tỏa. Tại Đông Á, các hoạt động tự do hàng hải của hải quân Mỹ duy trì khả năng tiếp cận của quân đội nước này ở vùng tranh chấp, nhưng chưa ngăn được Trung Quốc can thiệp vào hoạt động kinh tế và hàng hải của các nước láng giềng. Tàu Philippines, dù Manila là đồng minh hiệp ước của Washington, vẫn liên tục bị tàu Trung Quốc đông hơn và lớn hơn cản trở ở Biển Đông, còn một số dự án dầu khí ngoài khơi phải tạm dừng dưới sức ép từ Bắc Kinh. Trung Quốc đồng thời sử dụng tàu dân binh và hải cảnh để tạo sức ép vùng xám, tránh đẩy căng thẳng tới ngưỡng xung đột quân sự trực tiếp. Trong 10 năm qua, Bắc Kinh đã xây đảo lớn ở quần đảo Hoàng Sa, triển khai các nền tảng nổi và tăng gấp 4 lần số tàu dân binh, hải cảnh nhằm hạn chế hoạt động của Philippines quanh bãi cạn Scarborough. Lực lượng Trung Quốc còn duy trì hiện diện tại Hoàng Hải, gia tăng hoạt động quanh đảo Pratas do Đài Loan kiểm soát, đồng thời tuần tra và can thiệp tàu thuyền ở vùng biển phía đông Đài Loan. Theo Prétat, phản ứng chủ yếu bằng thông cáo ngoại giao và hiện diện quân sự của Mỹ chưa đủ hiệu quả trước một chiến lược kiểm soát được triển khai liên tục, đa tầng và dưới ngưỡng chiến tranh.