Bỏ qua điều hướng
•

Mua đất giấy viết tay từ năm 1979, gần 20 năm không có nhà: Có được cấp sổ đỏ?

Mua đất giấy viết tay từ năm 1979, gần 20 năm không có nhà: Có được cấp sổ đỏ?
Nguồn ảnh: VietnamNet

Mua nhà đất bằng giấy viết tay từ năm 1979, từng có nhà ở nhưng sau khi nhà đổ đã chuyển chỗ, gần 20 năm không có nhà trên đất. Đến năm 2017 gia đình xây lại nhà và sử dụng đến nay, liệu có được cấp sổ đỏ?

Theo phản ánh của công dân, gia đình mua nhà và đất để ở, làm vườn từ năm 1979, có giấy tờ viết tay. Quá trình sử dụng, gia đình từng nhận thông báo nộp thuế đất ở vào năm 1982 và có xác nhận hộ khẩu thường trú giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1998.

Năm 1998, căn nhà trên đất quá cũ, xuống cấp và bị đổ. Do điều kiện kinh tế khó khăn, gia đình không có khả năng xây dựng lại nên phải tạm thời chuyển đến chỗ ở khác.

Gia đình cho biết từ năm 1998 đến trước năm 2017 vẫn trông nom và làm vườn trên thửa đất, giữ nguyên hiện trạng và không thay đổi mục đích sử dụng đất.

Do không có nhà để ở, giai đoạn 1999-2017 gia đình không đăng ký hộ khẩu thường trú tại đây, không có hóa đơn điện, nước, không có biên lai nộp thuế cùng các giấy tờ khác để chứng minh việc sử dụng đất vào mục đích ở.

Đến năm 2017, khi điều kiện kinh tế cho phép, gia đình xây lại nhà trên thửa đất.

Nay gia đình làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) lần đầu thì được UBND xã yêu cầu cung cấp hồ sơ, giấy tờ thể hiện quá trình sử dụng đất trong giai đoạn 2003-2014 để làm cơ sở xem xét việc sử dụng đất ổn định.

Cho rằng yêu cầu này khó thực hiện vì đây chính là giai đoạn gia đình không còn nhà để ở, công dân đặt câu hỏi: Việc xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như trên có đảm bảo đúng quy định, bảo đảm quyền lợi hợp pháp, chính đáng của gia đình? 

W-dat dai vietnamnet.jpg
Nhiều loại giấy tờ có thể chứng minh quá trình sử dụng đất. Ảnh minh họa: Hồng Khanh

Trả lời phản ánh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) cho biết đây là vụ việc cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương và cần căn cứ vào hồ sơ lưu trữ, các quy định cụ thể địa phương đã ban hành theo thẩm quyền để thi hành Luật Đất đai để xem xét, giải quyết.

Bộ nêu một số nguyên tắc để công dân tham khảo, đối chiếu. 

Bộ NN&MT dẫn khoản 38 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024, trong đó quy định “sử dụng đất ổn định” là việc sử dụng đất vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét việc sử dụng đất ổn định.

Đáng chú ý, cách diễn đạt của Luật Đất đai năm 2024 đã thay đổi so với quy định trước đây.

Theo quy định cũ tại Nghị định 43/2014, “sử dụng đất ổn định” được xác định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất đến thời điểm cấp giấy chứng nhận.

Theo Bộ, việc xác nhận sử dụng đất ổn định quy định tại khoản 38 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 đã được quy định tại tiết b2 điểm b khoản 4 Mục III nội dung C Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định số 151/2025 của Chính phủ.

Theo đó, trường hợp có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 7 Điều 137 Luật Đất đai thì thực hiện xác định đất sử dụng ổn định theo quy định tại khoản 38 Điều 3 Luật Đất đai.

Trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 137 Luật Đất đai thì xác định nguồn gốc sử dụng đất; xác định việc sử dụng đất ổn định theo quy định tại khoản 38 Điều 3 Luật Đất đai. 

Việc xác nhận sử dụng đất ổn định được căn cứ vào thời gian và mục đích sử dụng đất tại một trong các giấy tờ: biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất; giấy tờ xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến đất đai hoặc công trình; bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực; giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có địa chỉ gắn với thửa đất.

Ngoài ra còn có giấy tờ về giao đất, mua hoặc nhận thanh lý, hóa giá, phân phối nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất; giấy tờ mua bán nhà, tài sản gắn liền với đất hoặc mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất; bản đồ, tài liệu điều tra, đo đạc đất đai, sổ mục kê, sổ kiến điền; giấy tờ kê khai, đăng ký nhà đất có xác nhận của UBND cấp xã, cấp huyện hoặc cấp tỉnh tại thời điểm kê khai kể từ ngày 15/10/1993 trở về sau và giấy tờ về đăng ký thường trú, tạm trú tại nhà ở gắn với đất ở.

Nếu không có các loại giấy tờ nêu trên hoặc giấy tờ không thể hiện rõ thời điểm và mục đích sử dụng đất, việc xác định còn có thể được thực hiện trên cơ sở nội dung kê khai của người sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất theo quy định.

Trường hợp các giấy tờ thể hiện thời điểm bắt đầu sử dụng đất không thống nhất, thời điểm sử dụng đất được xác định theo giấy tờ hoặc thông tin có ngày, tháng, năm sử dụng đất sớm nhất.

Việc cấp giấy chứng nhận lần đầu đã được pháp luật đất đai hiện hành quy định cụ thể các Điều 137, 138, 139 và 140 của Luật Đất đai.

Về trình tự, thủ tục hành chính về đất đai, trong đó có thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận lần đầu hiện hành đã được Chính phủ giao UBND cấp tỉnh quy định tại Điều 15 Nghị định số 49/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định một số cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai.

Gia đình trong câu chuyện mua nhà và đất để ở, làm vườn từ năm 1979 bằng giấy viết tay, rồi sử dụng thửa đất suốt nhiều năm. Hồ sơ gia đình có thông báo nộp thuế đất ở năm 1982 và xác nhận hộ khẩu thường trú tại đây trong giai đoạn 1986 đến 1998. Nhưng năm 1998, căn nhà đã quá cũ, xuống cấp rồi đổ sập, khiến gia đình phải chuyển đi vì không đủ điều kiện kinh tế để xây dựng lại. Theo phản ánh, từ năm 1998 đến trước năm 2017, gia đình vẫn trông nom và làm vườn trên đất, giữ nguyên hiện trạng, không thay đổi mục đích sử dụng. Dù vậy, trong thời gian 1999 đến 2017, họ không đăng ký thường trú tại đây, không có hóa đơn điện, nước hay biên lai thuế để chứng minh việc sử dụng đất vào mục đích ở. Đến năm 2017, khi kinh tế khá hơn, gia đình xây lại nhà và sau đó nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu. UBND xã yêu cầu gia đình cung cấp giấy tờ thể hiện quá trình sử dụng đất trong giai đoạn 2003 đến 2014, nhằm làm căn cứ xem xét việc sử dụng ổn định. Gia đình cho rằng yêu cầu này khó đáp ứng, bởi đó là quãng thời gian họ không có nhà để ở và thiếu các giấy tờ thường dùng để chứng minh. Từ tình huống ấy, công dân hỏi việc xem xét cấp giấy chứng nhận có đúng quy định, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình hay không. Trả lời phản ánh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết đây là vụ việc cụ thể thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương, cần xem xét hồ sơ lưu trữ cùng quy định địa phương ban hành. Bộ nêu một số nguyên tắc để người dân tham khảo, đối chiếu, chứ không kết luận thay cơ quan có thẩm quyền về việc gia đình đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận. Vì vậy, kết quả cần dựa trên giấy tờ thực tế của thửa đất và các quy định áp dụng tại địa phương, thay vì chỉ căn cứ vào một tình tiết riêng lẻ. Theo khoản 38 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024, sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất vào một mục đích chính nhất định, từ lúc bắt đầu đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét. Cách diễn đạt này khác quy định trước đây tại Nghị định 43/2014, vốn xác định sử dụng ổn định là sử dụng liên tục vào một mục đích chính từ khi bắt đầu đến khi được cấp giấy chứng nhận. Bộ cho biết việc xác nhận sử dụng ổn định hiện được hướng dẫn tại tiết b2 điểm b khoản 4 Mục III nội dung C Phụ lục I ban hành kèm Nghị định 151/2025. Nếu có giấy tờ về quyền sử dụng đất thuộc khoản 7 Điều 137 Luật Đất đai, việc xác định sử dụng ổn định thực hiện theo khoản 38 Điều 3 của luật này. Nếu không có giấy tờ theo Điều 137, cơ quan xem xét cần xác định nguồn gốc sử dụng đất, đồng thời xác định quá trình sử dụng ổn định theo quy định tương ứng. Bởi vậy, câu chuyện không chỉ nằm ở việc gia đình có chứng minh được từng năm trong giai đoạn xã yêu cầu hay không, mà còn liên quan nguồn gốc và mục đích sử dụng đất. Những căn cứ có thể được xem xét gồm biên lai thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất, giấy xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến đất hoặc công trình. Bản án, quyết định đã có hiệu lực của tòa án, giấy nộp tiền điện nước và khoản thu khác có địa chỉ gắn với thửa đất cũng nằm trong danh mục được nêu. Ngoài ra, giấy tờ giao đất, mua hoặc nhận thanh lý, hóa giá, phân phối nhà ở, công trình gắn liền với đất cũng có thể giúp làm rõ thời gian và mục đích sử dụng. Các giấy tờ mua bán nhà, tài sản gắn liền với đất hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng được nêu, bên cạnh bản đồ, tài liệu đo đạc, sổ mục kê và sổ kiến điền. Giấy tờ kê khai, đăng ký nhà đất có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền tại thời điểm kê khai từ ngày 15/10/1993 trở về sau là một nguồn căn cứ khác. Bộ cũng liệt kê giấy tờ đăng ký thường trú, tạm trú tại nhà ở gắn với đất ở, phù hợp với phần hồ sơ mà gia đình còn có thể tra cứu. Theo nội dung bài VietnamNet trích dẫn, nếu không có các giấy tờ kể trên, hoặc giấy tờ không thể hiện rõ thời điểm và mục đích sử dụng, việc xác định còn có thể căn cứ vào nội dung kê khai của người sử dụng đất. Phần văn bản được cung cấp dừng giữa nội dung này, nên chưa nêu đầy đủ các căn cứ tiếp theo hoặc cách địa phương sẽ áp dụng riêng cho trường hợp gia đình. Trước mắt, gia đình có thể đối chiếu giấy tờ còn lưu giữ với hướng dẫn của Bộ và đề nghị địa phương xem xét hồ sơ, nhưng bài viết không khẳng định chắc chắn kết quả cấp sổ đỏ.