Bỏ qua điều hướng
•

Muốn cứu sông hồ ô nhiễm, phải bắt đầu từ nước thải mỗi nhà

Muốn cứu sông hồ ô nhiễm, phải bắt đầu từ nước thải mỗi nhà
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Mỗi hộ dân cùng xả nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý có thể biến những con mương, ao làng thành nguồn ô nhiễm, rồi đổ dồn ra sông lớn. Theo chuyên gia, muốn hồi sinh những dòng sông ô nhiễm, cần bắt đầu từ chính căn bếp, nhà tắm của mỗi gia đình, với những giải pháp xử lý phù hợp, chi phí hợp lý và...

Báo Tiền Phong có cuộc trao đổi với ông Phạm Văn Thông, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ và Bảo tồn thiên nhiên.

Sử dụng giải pháp thuận thiên

Thưa ông, vì sao kiểm soát nước thải tại nguồn cần được xem là một mắt xích quan trọng trong nỗ lực phục hồi các dòng sông ô nhiễm ở Việt Nam?

Ông Phạm Văn Thông: Theo tôi, muốn phục hồi những dòng sông ô nhiễm ở Việt Nam phải bắt đầu từ việc kiểm soát những dòng nước thải nhỏ nhất, ngay tại từng hộ gia đình, khu dân cư và cơ sở sản xuất, kinh doanh.

ong-pham-van-thong.jpg
Ông Phạm Văn Thông, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ và Bảo tồn thiên nhiên.

Hiện nay, chúng ta thường tập trung vào việc xây dựng các hệ thống thu gom và nhà máy xử lý nước thải quy mô lớn. Đây là giải pháp rất cần thiết, đặc biệt tại các đô thị đông dân cư. Tuy nhiên, điều kiện thực tế của Việt Nam khiến chúng ta khó có thể áp dụng mô hình này ở mọi nơi trong thời gian ngắn.

Một vấn đề rất phổ biến là nước thải từ nhà vệ sinh thường được đưa vào bể phốt, nhưng nước từ nhà tắm, máy giặt, nhà bếp và các hoạt động sinh hoạt khác lại được xả trực tiếp ra cống rãnh, ao hồ hoặc kênh mương. Mỗi gia đình chỉ thải ra một lượng nước tương đối nhỏ, nhưng khi hàng trăm, hàng nghìn hộ cùng xả vào một dòng kênh hay con sông thì lượng chất ô nhiễm tích tụ sẽ rất lớn.

Đặc biệt, ô nhiễm không chỉ xảy ra ở các dòng sông lớn. Nhiều con mương, ao làng, kênh tưới tiêu và những dòng suối nhỏ đang tiếp nhận nước thải sinh hoạt chưa được xử lý. Nguồn nước này sau đó tiếp tục chảy vào các dòng sông, hoặc được sử dụng để tưới tiêu trên đồng ruộng, gây ô nhiễm cục bộ, ảnh hưởng đến đất canh tác, hệ sinh thái và sức khỏe người dân.

anh.jpg
Ô nhiễm tại một con kênh nhỏ ở
ngoại thành Hà Nội. Ảnh: Nguyễn Hoài.

Một hướng đi mà tôi đặc biệt quan tâm là sử dụng các giải pháp thuận theo tự nhiên. Chẳng hạn, bảo vệ và phục hồi những ao, đầm lầy, vùng đất ngập nước, đồng thời tạo ra các khu vực có thực vật thủy sinh để hỗ trợ quá trình lọc nước. Thực vật, hệ vi sinh vật và lớp vật liệu nền trong những hệ thống này có khả năng giữ lại chất rắn lơ lửng, hấp thụ hoặc chuyển hóa một phần chất dinh dưỡng và phân hủy các chất hữu cơ.

Tất nhiên, những hệ thống tự nhiên này không thể thay thế hoàn toàn các công trình xử lý nước thải, đặc biệt đối với nước thải chứa hóa chất độc hại hoặc có nguy cơ gây bệnh cao. Tuy nhiên, nếu được thiết kế và quản lý đúng cách, chúng có thể trở thành một lớp xử lý bổ sung rất hữu ích, nhất là ở khu vực nông thôn.

Đặc biệt, cần chú trọng đến nguồn nước thải sinh hoạt từ hoạt động tắm giặt, nấu ăn và vệ sinh hằng ngày. Mặc dù mỗi hộ gia đình chỉ phát sinh một lượng nhỏ, nhưng tổng lượng nước thải từ hàng triệu hộ lại trở thành nguồn gây ô nhiễm rất lớn.

Tôi cho rằng việc kết hợp các tiến bộ khoa học công nghệ với những giải pháp lọc nước thuận theo tự nhiên, như sử dụng thực vật thủy sinh và các vùng đất ngập nước nhân tạo, là hướng nghiên cứu có nhiều tiềm năng và cần được khuyến khích.

Theo tôi, muốn có những dòng sông sạch thì không thể chỉ quan tâm đến phần nước đang chảy trong sông, mà phải quan tâm đến toàn bộ những nguồn nước nhỏ đang đổ vào đó. Một dòng sông chỉ có thể thực sự hồi sinh khi các nguồn nước nuôi dưỡng nó không còn liên tục mang theo chất ô nhiễm.

Ưu tiên khu vực nông thôn

Theo ông, Việt Nam nên lựa chọn mô hình xử lý nước thải tại nguồn như thế nào để phù hợp với điều kiện đô thị và nông thôn hiện nay? Với những nơi chưa thể đầu tư hệ thống tập trung, giải pháp tại hộ hoặc cụm hộ có thể triển khai ra sao?

Ông Phạm Văn Thông: Theo tôi, Việt Nam chưa nên áp dụng một mô hình xử lý nước thải duy nhất cho tất cả các địa phương, bởi điều kiện về mật độ dân cư, địa hình, đất đai và khả năng tài chính giữa đô thị và nông thôn rất khác nhau.

Đối với các đô thị và khu dân cư tập trung, hệ thống thu gom và xử lý nước thải tập trung vẫn là giải pháp quan trọng và cần tiếp tục được đầu tư. Tuy nhiên, tại các khu vực nông thôn, miền núi, ven sông hoặc những nơi dân cư phân bố thưa, việc xây dựng hàng chục km đường ống để thu gom nước thải từ một số ít hộ gia đình sẽ rất tốn kém, chưa kể chi phí vận hành và bảo dưỡng lâu dài.

Đây cũng là một bài toán vừa cấp thiết, vừa đầy tiềm năng cho các nhà khoa học, nhà sáng chế và doanh nghiệp Việt Nam. Làm thế nào để tạo ra những hệ thống xử lý nước thải nhỏ gọn, hiệu quả, chi phí thấp mà mỗi gia đình hoặc cụm dân cư đều có thể sử dụng?

Tôi cho rằng đây không chỉ là một thách thức về khoa học công nghệ mà còn là cơ hội lớn để các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, phát triển những sản phẩm thực sự đáp ứng nhu cầu của hàng triệu hộ gia đình.

Ở những khu vực này, tôi cho rằng cần ưu tiên các hệ thống xử lý quy mô hộ gia đình hoặc cụm hộ, kết hợp với các giải pháp dựa vào thiên nhiên.

o-nhiem.jpg
Tình trạng ô nhiễm tại một con mương nhỏ ở Hà Nội. Ảnh: Trọng Tài.

Ở cấp hộ gia đình, trước hết cần kiểm soát toàn bộ nước thải sinh hoạt, không chỉ nước từ nhà vệ sinh mà cả nước từ nhà bếp, nhà tắm và máy giặt. Bể phốt có thể đóng vai trò xử lý ban đầu, nhưng nước sau bể phốt vẫn cần được xử lý tiếp bằng bể lọc sinh học, bãi lọc trồng cây hoặc công nghệ phù hợp khác. Đặc biệt, không nên đơn giản đưa thêm toàn bộ nước thải sinh hoạt vào những bể phốt cũ vốn chỉ được thiết kế để tiếp nhận nước nhà vệ sinh.

Đối với những cụm hộ có điều kiện về diện tích, có thể xây dựng hệ thống thu gom nhỏ, dẫn nước thải qua các công đoạn lắng, lọc, xử lý sinh học và cuối cùng là một khu đất ngập nước nhân tạo có trồng các loài thực vật thủy sinh phù hợp.

o-nhiem-567.jpg
Ô nhiễm dòng sông thường bắt nguồn từ các mương nhỏ đổ vào. Ảnh: Trọng Tài.

Tôi đặc biệt muốn nhấn mạnh vai trò của những ao, đầm lầy và vùng đất ngập nước trong hệ thống xử lý nước thải ở nông thôn. Trước đây, nhiều làng quê Việt Nam có ao làng, vùng trũng, những bãi cây thủy sinh và các khu đất ngập nước ven sông. Đây không chỉ là sinh cảnh của nhiều loài động, thực vật mà còn góp phần điều hòa dòng chảy, giữ lại bùn cặn và hỗ trợ quá trình làm sạch nước một cách tự nhiên.

Chúng ta có thể nghiên cứu phục hồi những không gian này hoặc xây dựng các vùng đất ngập nước nhân tạo tại những vị trí phù hợp, tạo thành một vùng đệm sinh thái giữa khu dân cư, đồng ruộng và hệ thống sông ngòi. Nước thải sau xử lý sơ bộ sẽ được dẫn qua những khu vực này để tiếp tục giảm chất hữu cơ, chất dinh dưỡng và một phần các chất ô nhiễm khác trước khi xả ra môi trường.

Đây là cách tiếp cận có nhiều lợi ích: tận dụng các quá trình sinh thái tự nhiên, giảm sự phụ thuộc vào thiết bị cơ khí và điện năng, đồng thời tạo ra không gian xanh và sinh cảnh cho các loài động vật hoang dã. Tuy nhiên, hệ thống vẫn phải được thiết kế theo lưu lượng nước, tải lượng ô nhiễm, điều kiện đất đai và được bảo dưỡng thường xuyên, chứ không phải cứ đào một cái ao rồi xả nước thải vào là có thể làm sạch nước.

Ngay cả khi chưa thể triển khai hệ thống xử lý đến từng hộ gia đình, tôi nghĩ chính quyền địa phương vẫn có thể bắt đầu từ những giải pháp ở quy mô cộng đồng. Chẳng hạn, xác định những con mương đang tiếp nhận nước thải sinh hoạt, xây dựng các bể lắng và khu lọc sinh học kết hợp thực vật thủy sinh ở những vị trí thích hợp, đặc biệt trước khi nước chảy vào sông, hồ hoặc hệ thống tưới tiêu.

Đây có thể là một giải pháp chuyển tiếp giúp giảm ô nhiễm cục bộ trong khi chờ hoàn thiện hệ thống xử lý tại nguồn. Tuy nhiên, cần tránh việc biến ao hồ tự nhiên thành nơi chứa nước thải chưa xử lý, bởi điều đó có thể khiến chính những hệ sinh thái này bị suy thoái. Nước thải từ cơ sở sản xuất, rửa xe hoặc các hoạt động chứa dầu mỡ, hóa chất nguy hại cũng phải được kiểm soát riêng, không được đưa trực tiếp vào các vùng lọc sinh thái.

o-nhiem-hai-phong.png
Ô nhiễm hồ điều hoà tại Hải Phòng. Ảnh: Nguyễn Hoàn

Về kinh phí, theo tôi Nhà nước cần giữ vai trò hỗ trợ và hướng dẫn kỹ thuật, đặc biệt với những hộ có thu nhập thấp. Các hộ ở gần nhau có thể cùng sử dụng một hệ thống xử lý chung, từ đó chia sẻ chi phí đầu tư và bảo dưỡng. Với công trình đất ngập nước nhân tạo, nếu có quỹ đất phù hợp, thiết kế đơn giản và tổ chức vận hành tốt, chi phí vận hành có thể thấp hơn một số hệ thống cơ khí phức tạp.

Điều quan trọng không phải là lựa chọn công nghệ hiện đại và đắt tiền nhất, mà là lựa chọn giải pháp đủ hiệu quả, phù hợp với địa phương và có thể duy trì trong hàng chục năm. Tôi cho rằng sự kết hợp giữa xử lý tại nguồn, xử lý theo cụm dân cư và các hệ thống lọc sinh thái thuận theo tự nhiên là hướng đi rất đáng được ưu tiên nghiên cứu, thí điểm và nhân rộng ở Việt Nam.

Đề xuất chiến lược 3 giai đoạn

Việc triển khai nên được thực hiện theo lộ trình nào để bảo đảm huy động được sự tham gia của người dân, hộ gia đình trong việc kiểm soát nước thải tại nguồn?

Ông Phạm Văn Thông: Theo tôi, việc kiểm soát nước thải tại nguồn cần được xem là một chương trình dài hạn, có lộ trình cụ thể, chứ không thể chỉ dựa vào các cuộc vận động hoặc những đợt ra quân làm sạch môi trường.

Trước hết, chúng ta cần biết nước thải đang phát sinh từ đâu và chảy đi đâu. Chính quyền địa phương có thể bắt đầu bằng việc khảo sát hệ thống thoát nước trong từng khu dân cư, xác định những đường ống xả trực tiếp ra ao hồ, kênh mương, các điểm ô nhiễm nghiêm trọng và những khu vực có khả năng xây dựng công trình xử lý hoặc vùng lọc sinh thái.

rach-van-thanh.jpg
Ô nhiễm tại rạch Văn Thánh, TPHCM trước khi được thực hiện cải tạo. Ảnh: Duy Anh.

Tôi đề xuất triển khai theo ba giai đoạn.

Giai đoạn đầu là khảo sát, tuyên truyền và thực hiện các mô hình thí điểm. Nên lựa chọn một số khu dân cư hoặc lưu vực sông nhỏ đang bị ô nhiễm để áp dụng đồng thời các giải pháp: cải tạo hệ thống xử lý tại hộ gia đình, xây dựng công trình xử lý theo cụm hộ và thiết lập các khu đất ngập nước nhân tạo hoặc bãi lọc thực vật ở những vị trí phù hợp. Cần theo dõi chất lượng nước trước và sau xử lý để đánh giá hiệu quả thực tế, từ đó xác định mô hình phù hợp với từng điều kiện địa phương.

Giai đoạn tiếp theo là mở rộng các mô hình đã chứng minh được hiệu quả. Nhà nước cần ban hành hướng dẫn kỹ thuật đơn giản, dễ áp dụng và có cơ chế hỗ trợ tài chính rõ ràng.

Những hộ nghèo, hộ cận nghèo và cộng đồng sống ở các khu vực ô nhiễm nghiêm trọng nên được ưu tiên. Các hộ có thu nhập trung bình có thể được hỗ trợ một phần kinh phí hoặc vay ưu đãi, trong khi những hộ có điều kiện hơn có thể tự đầu tư theo thiết kế đã được hướng dẫn.

Ở quy mô cộng đồng, tôi cho rằng có thể huy động người dân cùng tham gia bảo vệ, phục hồi ao làng, vùng đất ngập nước và những dải thực vật ven sông. Đây là những hoạt động không chỉ góp phần cải thiện môi trường nước mà còn tạo ra lợi ích cảnh quan, sinh thái và không gian sinh hoạt chung.

Giai đoạn cuối là đưa việc kiểm soát nước thải trở thành một phần thường xuyên trong quản lý môi trường ở địa phương. Mỗi hộ gia đình cần biết nước thải của mình đi đâu, công trình xử lý có hoạt động tốt hay không và ai chịu trách nhiệm bảo dưỡng. Sau khi đã có hướng dẫn, cơ chế hỗ trợ và thời gian chuyển đổi hợp lý, cần tăng cường kiểm tra, xử lý những trường hợp cố tình xả nước thải chưa xử lý ra môi trường.

Cảm ơn ông!

Thực trạng ô nhiễm sông hồ tại Việt Nam hiện nay bắt nguồn từ chính những dòng thải sinh hoạt nhỏ lẻ chưa qua xử lý tại từng hộ gia đình và khu dân cư. Theo ông Phạm Văn Thông, Phó Giám đốc Trung tâm Công nghệ và Bảo tồn thiên nhiên, thói quen xả trực tiếp nước thải từ nhà tắm, nhà bếp và máy giặt ra kênh rạch đã tạo nên tải lượng ô nhiễm khổng lồ khi cộng dồn từ hàng triệu hộ dân. Dù việc xây dựng các nhà máy xử lý nước thải quy mô lớn là giải pháp cần thiết ở đô thị đông dân, nguồn lực thực tế chưa thể đáp ứng ngay lập tức cho toàn bộ các vùng miền. Nguồn nước thải chưa qua kiểm soát tại các ao làng, mương tưới tiêu không chỉ phá hủy hệ sinh thái sông ngòi mà còn thẩm thấu vào đất canh tác, đe dọa trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng. Trước thách thức trên, các giải pháp xử lý thuận theo tự nhiên kết hợp tiến bộ khoa học công nghệ được xem là hướng tiếp cận giàu tiềm năng, đặc biệt tại khu vực nông thôn. Việc bảo vệ, phục hồi các vùng đất ngập nước và ứng dụng thực vật thủy sinh sẽ hỗ trợ hấp thụ dưỡng chất dư thừa, phân hủy hữu cơ và tạo thành lớp xử lý bổ sung hiệu quả ngay tại nguồn phát sinh.
amung