Theo báo cáo “Tương lai Thương mại 2026” vừa được Standard Chartered công bố, đến năm 2031, quá trình đẩy nhanh số hóa có thể đóng góp thêm 2,8 nghìn tỷ USD vào thương mại quốc tế mỗi năm - tương đương khoảng 7,6 tỷ USD mỗi ngày.
Với tựa đề Đi qua kỷ nguyên bất định mang tính cấu trúc, báo cáo tiến hành khảo sát 2.100 lãnh đạo cấp cao, những người đưa ra quyết định tại các doanh nghiệp ở 27 thị trường, nhằm xác định xu hướng chuyển dịch từ tái cấu trúc theo địa lý sang tinh chỉnh chiến lược và năng lực chuỗi cung ứng. Điều này phù hợp với Việt Nam nói riêng và khu vực Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) nói chung, nơi các doanh nghiệp đang tập trung tăng cường chiến lược vào nhà cung cấp, quản trị hàng tồn kho, khả năng quan sát và dự báo. Kết quả khảo sát cho thấy, tại ASEAN, 86% số doanh nghiệp ghi nhận lợi ích có thể đo lường được từ ít nhất một năng lực số, trong khi 86% cho biết số hóa cải thiện quá trình ra quyết định nhờ tăng cường khả năng quan sát và dự báo, tỷ lệ cao nhất toàn cầu. Như vậy, số hóa đang trở thành giải pháp hiệu quả giúp Việt Nam củng cố vị thế là thị trường cung ứng và sản xuất trọng yếu. Chỉ số đo lường của khảo sát cho thấy, Việt Nam đạt 12% đối với hoạt động sản xuất và 11% đối với hoạt động nguồn cung ứng.
Bình luận về báo cáo, ông Roberto Hoornweg, Tổng Giám đốc, Khối Ngân hàng Doanh nghiệp và Đầu tư, Ngân hàng Standard Chartered nhận định: “Khi các doanh nghiệp giảm tập trung vào việc tái định hình chuỗi cung ứng và chú trọng hơn đến nâng cao khả năng chống chịu, khả năng quan sát và tính linh hoạt, đầu tư vào năng lực số đang trở thành nguồn lợi thế cạnh tranh then chốt”.
Trước những bất định của nền kinh tế toàn cầu, đã đến lúc, các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc mở rộng quy mô hay cắt giảm chi phí đơn thuần. Muốn tối ưu hóa cơ hội từ xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng và nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần tập trung triển khai bốn trụ cột: Thứ nhất, tinh chỉnh và số hóa toàn diện chuỗi cung ứng. Thay vì thay đổi hoặc dịch chuyển địa bàn hoạt động, doanh nghiệp có thể đầu tư vào các hệ thống quản trị kho hàng thông minh, công cụ dự báo nhu cầu và phần mềm tăng cường khả năng quan sát xuyên suốt chuỗi cung ứng. Thứ hai, tận dụng trí tuệ nhân tạo (AI) như một động lực chuyển đổi then chốt và tự động hóa quy trình doanh nghiệp. Thứ ba, tích hợp chức năng Ngân quỹ với Vận hành Rủi ro tỷ giá và biến động dòng tiền. Đây vốn là thách thức lớn đối với doanh nghiệp xuất, nhập khẩu. Cuối cùng, cần khai thác dư địa thương mại dịch vụ số và tiêu chuẩn quốc tế về thương mại dịch vụ số đang có tốc độ tăng trưởng vượt trội so với thương mại hàng hóa truyền thống. Để từ đó, doanh nghiệp chủ động mở rộng các mảng dịch vụ đi kèm sản phẩm (như tư vấn, phần mềm, giải pháp đám mây, hỗ trợ kỹ thuật từ xa). Đồng thời, việc tuân thủ các tiêu chuẩn giao dịch số quốc tế, chứng từ điện tử và thanh toán xuyên biên giới số hóa sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng tham gia mạng lưới đối tác toàn cầu.
Trong bối cảnh Việt Nam đang nổi lên như một mắt xích then chốt của chuỗi cung ứng toàn cầu nhờ vào chi phí lao động cạnh tranh, dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) mạnh mẽ và các cải cách chính sách có trọng tâm, sự thích ứng và nắm bắt lợi thế cạnh tranh cốt lõi của cộng đồng doanh nghiệp sẽ góp phần thúc đẩy quốc gia chuyển hóa rủi ro của những biến động khó đoán định trở thành cơ hội bứt phá để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số đã được Đảng, Nhà nước đề ra.
SƠN MINH
Báo cáo “Đi qua kỷ nguyên bất định mang tính cấu trúc” phác họa cách doanh nghiệp toàn cầu điều chỉnh chiến lược trước những biến động ngày càng kéo dài và khó dự đoán. Nghiên cứu khảo sát 2.100 lãnh đạo cấp cao, những người trực tiếp ra quyết định tại doanh nghiệp thuộc 27 thị trường khác nhau. Kết quả cho thấy trọng tâm đang chuyển từ tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo địa lý sang tinh chỉnh chiến lược, nâng cao năng lực vận hành và tăng sức chống chịu.
Xu hướng này đặc biệt phù hợp với Việt Nam và khu vực Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, nơi doanh nghiệp đang củng cố quan hệ với nhà cung cấp. Các ưu tiên nổi bật gồm quản trị hàng tồn kho, tăng khả năng quan sát toàn chuỗi cung ứng, đồng thời nâng chất lượng dự báo nhu cầu và rủi ro. Thay vì liên tục dịch chuyển địa điểm sản xuất, doanh nghiệp ngày càng chú trọng làm cho mạng lưới hiện hữu linh hoạt, minh bạch và phản ứng nhanh hơn.
Tại ASEAN, 86% doanh nghiệp được khảo sát ghi nhận lợi ích có thể đo lường từ ít nhất một năng lực số đang được triển khai. Cũng có 86% doanh nghiệp cho biết số hóa đã cải thiện quá trình ra quyết định nhờ tăng khả năng quan sát và dự báo. Đây là tỷ lệ cao nhất trên toàn cầu, cho thấy công nghệ số đang giữ vai trò nổi bật trong việc nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp khu vực.
Những con số trên mở ra triển vọng đáng chú ý cho Việt Nam, quốc gia đang củng cố vị thế trong mạng lưới sản xuất và cung ứng quốc tế. Theo các chỉ số được nêu trong khảo sát, Việt Nam đạt 12% đối với hoạt động sản xuất và 11% đối với hoạt động nguồn cung ứng. Các tỷ lệ này cho thấy dư địa cải thiện còn lớn, đồng thời phản ánh cơ hội để doanh nghiệp tận dụng số hóa sâu hơn trong hoạt động kinh doanh.
Bình luận về báo cáo, ông Roberto Hoornweg, Tổng Giám đốc Khối Ngân hàng Doanh nghiệp và Đầu tư, Ngân hàng Standard Chartered, nhấn mạnh sự thay đổi trong ưu tiên của doanh nghiệp. Theo ông, khi doanh nghiệp giảm tập trung vào tái định hình chuỗi cung ứng, đầu tư vào khả năng chống chịu, quan sát và linh hoạt sẽ trở nên quan trọng hơn. Năng lực số vì thế không còn là lựa chọn mang tính hỗ trợ, mà trở thành nguồn lợi thế cạnh tranh then chốt trong môi trường kinh doanh mới.
Trước bất định của kinh tế toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam cần vượt qua cách tiếp cận chỉ dựa vào mở rộng quy mô hoặc cắt giảm chi phí đơn thuần. Trụ cột đầu tiên là tinh chỉnh, số hóa toàn diện chuỗi cung ứng thông qua hệ thống quản trị kho hàng thông minh và công cụ dự báo nhu cầu. Phần mềm tăng khả năng quan sát xuyên suốt mạng lưới cũng giúp doanh nghiệp phát hiện sớm điểm nghẽn, kiểm soát biến động và đưa ra quyết định sát thực tế hơn.
Trụ cột thứ hai là tận dụng trí tuệ nhân tạo, viết tắt AI, như động lực chuyển đổi quan trọng, đồng thời thúc đẩy tự động hóa các quy trình doanh nghiệp. Trụ cột thứ ba yêu cầu tích hợp chức năng ngân quỹ với vận hành, qua đó quản trị tốt hơn rủi ro tỷ giá và những biến động dòng tiền. Đây là vấn đề đặc biệt đáng lưu ý với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, vốn thường chịu tác động trực tiếp từ thị trường quốc tế và biến động thanh toán.
Trụ cột cuối cùng nằm ở việc khai thác dư địa thương mại dịch vụ số, lĩnh vực đang tăng trưởng nhanh hơn thương mại hàng hóa truyền thống. Doanh nghiệp có thể mở rộng các dịch vụ đi kèm sản phẩm, như tư vấn, phần mềm, giải pháp đám mây và hỗ trợ kỹ thuật từ xa. Tuân thủ tiêu chuẩn giao dịch số quốc tế, sử dụng chứng từ điện tử và thanh toán xuyên biên giới số hóa sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng kết nối mạng lưới đối tác toàn cầu, biến bất định thành cơ hội bứt phá hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.