Bỏ qua điều hướng
•

“Người dân phải có con suối sạch để bắt tôm cá, mảnh đất lành trồng ngô”

“Người dân phải có con suối sạch để bắt tôm cá, mảnh đất lành trồng ngô”
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - “Người dân phải có con suối sạch để bắt tôm cá, có mảnh đất lành để trồng ngô. Bảo vệ môi trường miền núi đang là vấn đề rất nóng, đòi hỏi trách nhiệm lớn từ những người làm chính sách”.

Tại tọa đàm trực tuyến với chủ đề: “Bảo vệ môi trường ở miền núi: Trách nhiệm từ mỗi người dân” do báo Dân trí tổ chức, PGS.TS Bùi Thị An, nguyên Đại biểu Quốc hội khóa XIII, Chủ tịch Hội Nữ trí thức Hà Nội, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng, khẳng định Nghị quyết 46/2026 của Quốc hội ra đời có ý nghĩa rất lớn đối với các vùng nông thôn, miền núi.

“Mục tiêu của chúng ta là tất cả mọi người được công bằng và không bỏ ai lại phía sau. Tập trung cho miền núi thế nào để miền núi phát triển ngang với vùng đồng bằng cũng như thành thị, đấy là mục tiêu… Nếu thực hiện tốt theo Nghị quyết này, sau một thời gian các vùng nông thôn, miền núi sẽ có đột phá và phát triển thực sự”, bà An nhấn mạnh.

“Người dân phải có con suối sạch để bắt tôm cá, mảnh đất lành trồng ngô” - 1

PGS.TS Bùi Thị An tham dự tọa đàm do Dân trí tổ chức (Ảnh: Mạnh Quân).

Phân rõ trách nhiệm, chấm dứt tình trạng đầu tư dàn trải

PGS.TS Bùi Thị An cho rằng ô nhiễm môi trường đang trở thành vấn đề chung của cả nước, không riêng miền núi. Ô nhiễm xảy ra ở đây có đặc thù không gian rải rác, xa nhau, lại có sông, suối. Trong khi thói quen của người dân trước đây là vứt rác xuống chân đồi nhà mình hay chân suối.

Theo bà An, rác thải nhựa gây ô nhiễm rất lớn. Thuốc bảo vệ thực vật diệt cỏ đỡ công sức nhưng lại gây ảnh hưởng đến những vùng đất, nước. Đó là chưa kể phân bón vô cơ cũng đang đáng lo ngại.

“Tôi cho rằng vấn đề ô nhiễm đất, ô nhiễm nước, ô nhiễm rác thải, thuốc bảo vệ thực vật là vấn đề đang rất lớn, cần phải đặt ra một cách rõ ràng, cụ thể để thực hiện Nghị quyết 46 có hiệu quả”, vị chuyên gia nêu quan điểm.

Từng có thời gian dài làm Đại biểu Quốc hội, tham gia xây dựng nhiều chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường, bà An khẳng định Quốc hội luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến vùng sâu, vùng xa với tinh thần trách nhiệm cao nhất, nhằm hướng tới mục tiêu phát triển đồng đều giữa các vùng miền.

Thời gian qua đã có nhiều chương trình đầu tư nhưng bà An nhận định nguồn lực cho vùng sâu, vùng xa vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế. Bên cạnh vấn đề thiếu hụt nguồn lực, khâu tổ chức thực hiện cũng có nhiều bài học cần rút kinh nghiệm.

“Người dân phải có con suối sạch để bắt tôm cá, mảnh đất lành trồng ngô” - 2

Một vùng miền núi ở phía Bắc (Ảnh: Phạm Ngọc Triển).

Môi trường miền núi có đặc thù rất riêng, cảnh quan đồi núi, ruộng bậc thang tuyệt đẹp và thói quen sinh hoạt không tập trung giúp giảm bớt ô nhiễm trực tiếp giữa các hộ gia đình. Nhưng nhìn tổng thể toàn vùng, tình trạng ô nhiễm lại rất đáng lo ngại, đặc biệt ô nhiễm nguồn nước ngầm, kéo theo ảnh hưởng xuống cả vùng hạ lưu. 

“Tôi đề nghị phải phân rõ trách nhiệm, chấm dứt tình trạng đầu tư dàn trải, tập trung nguồn lực cho những nơi thật sự cần thiết và phải có cơ chế giám sát thực thi chặt chẽ. Chúng ta không thể nói chung chung được nữa mà phải đưa ra giải pháp rất cụ thể, chú ý toàn diện cả về kinh tế, văn hóa và xã hội. Bởi suy cho cùng, người dân phải có con suối sạch để bắt tôm cá, có mảnh đất lành để trồng ngô. Bảo vệ môi trường miền núi đang là vấn đề rất nóng, đòi hỏi trách nhiệm lớn từ những người làm chính sách”, Viện trưởng Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển cộng đồng chia sẻ.

"Phải làm việc với tinh thần trách nhiệm cao nhất”

Bà An nhận định mô hình thu gom rác ở bản làng xa xôi bắt buộc phải nhỏ lẻ, cơ động và linh hoạt. Song song với đó phải nâng cao nhận thức người dân bởi đây chính là yếu tố cốt lõi thúc đẩy, phòng ngừa, hướng dẫn phân loại và xử lý rác tại chỗ.

“Sau khi người dân phân loại phải có người đi thu gom. Nhưng muốn họ làm việc lâu dài, tôi nghĩ rằng phải quan tâm đến sinh kế của họ. Chi phí thu gom ở miền núi đắt hơn miền xuôi rất nhiều, nếu không cung cấp đủ tiền kinh phí, lực lượng này không thể duy trì công việc. Và rác thải lại tiếp tục bị vứt xuống sông, xuống suối. Việc này cần phải công khai, minh bạch và có sự giám sát”, vị chuyên gia nêu quan điểm.

Đồng thời với đó cần sự vào cuộc mạnh mẽ của Nhà nước. Nhà nước có cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc biệt về tài chính, đầu ra cho sản phẩm sạch. Có thể thực hiện liên tục trong 1 đến 3 năm để người dân từng bước chuyển đổi hành vi. Khi việc giữ gìn vệ sinh trở thành thói quen tốt của cộng đồng, bà An tin mọi thứ sẽ tự đi vào nếp.

“Người dân phải có con suối sạch để bắt tôm cá, mảnh đất lành trồng ngô” - 3

PGS.TS Bùi Thị An trao đổi tại tọa đàm (Ảnh: Mạnh Quân).

Bà An dẫn chứng, muốn vận động người dân không dùng túi nilon phải có vật liệu thay thế. Giai đoạn đầu, Nhà nước có thể hỗ trợ 100% kinh phí các vật liệu thay thế túi nilon, không thu tiền của bà con.

Đi liền với đó phải “cầm tay chỉ việc” tại chỗ, hướng dẫn người dân cách xử lý phụ phẩm hữu cơ bằng cách đào hố rồi cho men vi sinh vào. “Cần chỉ rõ tận nơi cho bà con thấy sự nguy hại của rác thải điện tử, của pin, hay vỏ chai lọ hóa chất độc hại. Khi nhận thức của người dân đã tốt hơn, phải có cơ chế tài chính để khuyến khích, khen thưởng. Hộ nào làm tốt thì thưởng trực tiếp 1 triệu đồng. Phải dùng cơ chế tài chính để động viên bà con, và trong giai đoạn đầu, tôi đề nghị nên hỗ trợ gần như 100%”, PGS.TS Bùi Thị An phân tích.

Đối với doanh nghiệp, muốn thu hút cũng cần có chính sách cụ thể về thuế, mặt bằng, vốn. Thậm chí, theo Viện trưởng Bùi Thị An, các doanh nghiệp làm tốt và cam kết đầu tư dài hạn có thể áp dụng mức lãi suất ưu đãi 0% trong vòng 10 năm. Điều này cần rất cụ thể chứ không thể chung chung “ưu tiên tín dụng”.

“Người dân phải có con suối sạch để bắt tôm cá, mảnh đất lành trồng ngô” - 4

PGS.TS Bùi Thị An (Ảnh: Mạnh Quân).

“Khi đánh giá, đừng chỉ dùng chỉ tiêu KPI định tính hay số lượng phong trào, mà phải đánh giá bằng định lượng thực tế. Ví dụ như ở Lào Cai, xã nào làm tốt, tốt ở điểm gì, vì sao tốt là phải làm rõ. Làm chung chung sẽ không hiệu quả và tốn tiền của dân… Đối với miền núi, vai trò hỗ trợ của Nhà nước trong giai đoạn đầu vô cùng quan trọng. Phải kiểm tra sâu sát từng chút một, đến từng thôn, bản, từng hộ dân để giúp bà con thay đổi các thói quen xả rác không tốt. Khi đã thành thói quen tốt rồi thì mọi chuyện sẽ khác”, bà An nêu thực tế.

Nhấn mạnh bảo vệ môi trường miền núi là vấn đề rất lớn, thể hiện trách nhiệm của toàn xã hội đối với đồng bào nơi đây, PGS.TS Bùi Thị An đề nghị “phải làm việc với tinh thần trách nhiệm cao nhất”.

Phụ nữ chịu ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề nhất

Tại tọa đàm, PGS.TS Bùi Thị An cho biết Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển Cộng đồng được thành lập cách đây 24 năm. Viện luôn ưu tiên hướng tới bảo vệ môi trường ở những địa bàn ô nhiễm, đặc biệt khu vực vùng sâu, vùng xa.

“Bản thân tôi là một phụ nữ nên rất trăn trở về mối quan hệ giữa ô nhiễm môi trường và bình đẳng giới: Khi môi trường bị tàn phá, phụ nữ chính là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề nhất”, bà An chia sẻ.

Nữ Viện trưởng nói, mong muốn tiếp tục đóng góp trí tuệ và sức lực của mình để làm trong sạch môi trường sống, góp phần vào sự phát triển bền vững chung của đất nước, đặc biệt là ở khu vực miền núi còn nhiều thiệt thòi.

Tại tọa đàm trực tuyến do báo Dân trí tổ chức, PGS.TS Bùi Thị An nhận định ô nhiễm môi trường tại các khu vực miền núi đang diễn biến phức tạp và đe dọa trực tiếp sinh kế bản địa. Dù địa hình phân tán giúp giảm thiểu xung đột môi trường cục bộ, thói quen xả rác xuống sông suối cùng việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón vô cơ đang gây thoái hóa đất nghiêm trọng. Nguồn nước ngầm tại vùng cao bị suy thoái cũng tạo ra hệ lụy dây chuyền ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái hạ lưu. Nghị quyết 46/2026 của Quốc hội được đánh giá là cơ sở pháp lý then chốt nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi và đồng bằng theo nguyên tắc không bỏ ai lại phía sau. Tuy nhiên, việc chuyển hóa chính sách thành hiệu quả thực tiễn vẫn gặp nhiều rào cản do nguồn lực phân bổ còn thiếu hụt và công tác tổ chức thực hiện bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Để tạo đột phá thực sự, bài toán quy hoạch môi trường nông thôn đòi hỏi những giải pháp can thiệp đồng bộ cả về kinh tế lẫn văn hóa xã hội. Nguyên Đại biểu Quốc hội khóa XIII nhấn mạnh yêu cầu cấp bách phải chấm dứt tình trạng đầu tư dàn trải, tập trung nguồn vốn vào các địa bàn trọng điểm và thiết lập cơ chế giám sát thực thi nghiêm ngặt. Trách nhiệm của các cơ quan hoạch định chính sách là phải hiện thực hóa mục tiêu bảo đảm quyền tiếp cận nguồn tài nguyên căn bản cho đồng bào. Giữ vững mảnh đất lành để canh tác và dòng suối sạch để mưu sinh chính là thước đo cốt lõi cho sự phát triển bền vững tại vùng cao.
amung