Mới gần 6h, ông Hồ Văn Mai (65 tuổi, ở thôn La Vân, xã Quảng Điền, thành phố Huế) đã hoàn thành buổi thu hoạch chột nưa (phần thân cây nưa) trong ngày. Hơn 35 năm trồng loại cây đặc trưng của vùng hạ lưu sông Bồ, ông Mai cho biết đã quen với việc thức dậy sớm để thu hoạch nông sản.
Theo ông Mai, hàng ngày người dân thôn La Vân thường ra ruộng từ lúc 3-4h để thu hoạch chột nưa, kịp đưa đến các đại lý thu mua. Việc thu hoạch cây vào lúc sáng sớm giúp sản phẩm giữ được độ giòn, mọng nước và tươi mới nhất. Thời tiết sáng sớm mát mẻ cũng giúp người nông dân đỡ vất vả khi làm việc ngoài đồng.
Ông Hồ Văn Mai bên ruộng chột nưa đang trong giai đoạn cho thu hoạch của gia đình (Ảnh: Cao Tiến).
Tại thôn La Vân, hàng năm người nông dân thường trồng 2 vụ chột nưa. Vụ chính được xuống giống vào tháng 4-5 và cho thu hoạch sau khoảng 90 ngày. Sau khi thu hoạch vụ chính, người dân sẽ xuống giống vụ tiếp theo.
Trong vụ mùa thứ 2 của năm nay, gia đình ông Mai trồng 6 sào chột nưa và đang cho thu hoạch sản phẩm. Theo ông Mai, một sào chột nưa phát triển tốt có thể đạt năng suất 2-3 tấn thành phẩm. Ngoài ra, người dân còn tận dụng lá cây để làm thức ăn chăn nuôi lợn.
Ông Nguyễn Lương Hòa (thôn La Vân), người có hơn 15 năm gắn bó với nghề cho biết hiệu quả kinh tế của chột nưa phụ thuộc vào năng suất và giá bán từng thời điểm.
Với giá bán 13.000-15.000 đồng/kg chột nưa tươi, mỗi sào mang về cho nông dân nguồn thu 20-30 triệu đồng, thậm chí cao hơn nếu cây phát triển tốt và không gặp thời tiết bất lợi.
Vụ này, gia đình ông Hòa trồng gần 10 sào chột nưa. Sau khi trừ các khoản chi phí sản xuất, ước tính gia đình ông có thể đạt lợi nhuận hơn 200 triệu đồng.
Những cánh đồng chột nưa xanh tốt ở Quảng Điền (Ảnh: Cao Tiến).
Ông Nguyễn Lương Trí, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Quảng Thọ 2, cho biết cây chột nưa được trồng phổ biến ở xã Quảng Điền, nhưng chỉ riêng vùng đất La Vân mới có thể canh tác thường niên và trở thành đặc sản được nhiều người ưa chuộng.
Trong những năm qua, chột nưa dần khẳng định vị thế là nông sản chủ lực, mang lại nguồn thu nhập cao cho người trồng. Gắn bó với loại cây này, nhiều gia đình đã vươn lên trở thành hộ khá giả ở địa phương.
Hiện nay, tại khu vực thôn La Vân có gần 7ha diện tích chột nưa, với 20 xã viên Hợp tác xã Nông nghiệp Quảng Thọ 2 tham gia trồng. Bên cạnh phương thức canh tác truyền thống, các xã viên đã trồng cây theo hướng canh tác hữu cơ, chú trọng quy trình sản xuất an toàn, không sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học, nâng cao năng suất.
Theo ông Trí, kỹ thuật trồng chột nưa không khó, vốn đầu tư ít và đặc biệt là sản phẩm sạch. Tuy nhiên, loại cây này "khó tính" với phân bón, tuyệt đối không sử dụng phân gà, vịt vì chúng làm tăng đặc tính ngứa của chột nưa.
Do thuộc họ môn, thân mềm nên chột nưa cũng dễ đổ ngã khi gặp mưa gió, đòi hỏi người dân phải đóng cọc, giăng dây để chống đỡ. Một đặc tính cố hữu khác là loại cây này không thể luân canh trên cùng một diện tích mà phải xoay vòng đất trồng giữa các mùa vụ.
Người dân Quảng Điền thu hoạch rau má tươi để cung cấp cho thị trường (Ảnh: Cao Tiến).
Bên cạnh chột nưa, xã Quảng Điền còn được biết đến là vùng trồng rau má lớn nhất thành phố Huế, sản phẩm tiêu thụ tại nhiều địa phương như Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Nội và các tỉnh, thành phía Nam.
Theo lãnh đạo UBND xã Quảng Điền, hiện toàn xã có hơn 60ha rau má với gần 300 hộ tham gia sản xuất. Phần lớn diện tích được sản xuất theo quy trình VietGAP (thực hành sản xuất nông nghiệp tốt tại Việt Nam), đáp ứng yêu cầu về chất lượng và an toàn thực phẩm. Nhiều hộ trồng rau má với diện tích lớn, đạt mức thu nhập 200-300 triệu đồng/năm từ riêng loại nông sản này.