Bỏ qua điều hướng

'Người làm sao bào hao làm vậy' nghĩa là gì?

'Người làm sao bào hao làm vậy' nghĩa là gì?
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Đố bạn, em là cái chiMà bác thợ mộc có khi mới xài

Ấy là cái bào, dụng cụ bằng gỗ có lắp lưỡi bằng sắt nằm ngang dùng để bào mặt gỗ cho nhẵn. Tuy nhiên, về chữ nghĩa thì bào còn được hiểu qua nghĩa bóng là khiến đau đớn như ruột bị bào. Khi đọc Truyện Kiều, ai lại không thương xót cho lúc Thúy Kiều sa vào tay Hoạn Thư, trớ trêu nhất là dù gặp lại người đầu ấp tay gối nhưng Thúc Sinh tỏ thái độ thế nào?

Sinh đà rát ruột như bào

Nói ra chẳng tiện trông vào chẳng đang

Khi Thúc Sinh đến với Kiều, xét từ hoàn cảnh của hai người, biết đâu có kẻ xấu mồm bình luận: "Cậu ấy háo sắc quá, không khéo cô ta bào hết của" - từ bào ở đây hiểu là vơ vét, bòn rút ngày một ít đến lúc hết tiền của. Nói cách khác bào theo nghĩa này là bào bọt, còn có từ tương đương là bào nạo.

Xưa nay khi đọc kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du, ai lại không thích thú, vui mừng với "kết thúc có hậu", là lúc đoàn tụ một nhà:

Giọt châu thánh thót quẹn bào

Mừng mừng, tủi tủi, xiết bao sự tình

"Quẹn" là hoen, ố, tùy ngữ cảnh còn có nghĩa là rám như ta từng nghe nói "quẹn má hồng". Quèn quẹn là từ đôi, là hơi quẹn. Ở câu thơ này, dù hiểu "giọt châu" là nước mắt thánh thót hoen bào nhưng bào là gì? Ta hãy nhớ lại thời điểm Kim Trọng chia tay Thúy Kiều:

Người lên ngựa, kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

Cuộc chia tay ở đây cũng như lúc đoàn tụ đều có từ "bào", ta hiểu bào lại có nghĩa là cái áo tay dài và rộng. Có vài từ quen thuộc như mãng bào là áo nhà vua thêu hình mãng xà; long bào là áo nhà vua thêu rồng; cẩm bào là áo gấm, áo nhà quan… Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều có câu:

Sóng cồn cửa bể nhấp nhô

Chiếc thuyền bào ảnh lô xô mặt ghềnh

"Bào ảnh" nghĩa ra làm sao? Là bọt nước và cái bóng; hiểu rộng ra là hư ảo không có thật và chóng tan chóng mất. Chưa dừng lại đây, bào còn có thêm vài nghĩa nữa, thí dụ tục ngữ có câu: "Người làm sao bào hao làm vậy"; Đại từ điển tiếng Việt (1999) cho rằng cũng tựa như câu: "Ai nói sao bào hao làm vậy".

Có lẽ do không rõ nghĩa của từ "bào hao" nên mới có cách nói khác, chẳng hạn Từ điển tục ngữ Việt (2010) của Nguyễn Đức Dương ghi nhận: "Người làm sao chiêm bao làm vậy", "Người làm sao của làm vậy"; còn Tục ngữ lược giải (1952) của Lê Văn Hòe lại là: "Người làm sao khoản chiêm bao làm vậy": "Người như thế nào thì mơ màng ước ao những điều như thế. Khoản chiêm bao là khoản ước mơ. Câu này đại ý nói người như thế nào thì làm việc như vậy; người với việc, người với văn ảnh hưởng lẫn nhau, phản ảnh lẫn nhau".

Trong khi đó, với câu "Người làm sao chiêm bao làm vậy", theo Nguyễn Đức Dương: "Người có tư chất ra sao thì giấc mơ của anh ta cũng giống như vậy"; còn Tự điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (1990) của Nguyễn Lân giải thích: "Ngoài nghĩa đen là người thấy trong mộng giống người thấy hằng ngày, thường dùng với nghĩa bóng để chê những người vụng về hoặc xấu xa đúng như tính nết của họ".

Xét ra những cách giải thích này hết sức mơ hồ, chỉ suy diễn, không có căn cứ xác thực gì cả.

Vậy, "bào hao" nghĩa là gì?

Từ điển từ cổ (2001) của Nguyễn Lộc cho biết là từ gốc Hán có nghĩa "gầm thét, gào thét". Và dẫn chứng các nghĩa liên quan: "1. (Thú dữ) gầm thét. Tiếng con muông sủa bào hao dậy dàng (Trinh thử); Oai hùm dậy tiếng bào hao (Đoàn Hữu Trưng, Trung nghĩa ca). 2. Kêu gào. Luống bào hao, tiếc cùng than thở/Tiếc hồng nhan mặt nở nhụy đào (Chinh phụ ngâm); 3. Bồn chồn, không yên lòng. Mẹ cha trong dạ bào hao/Số khổ phải đói biết bao giờ rồi - (Phạm Công - Cúc Hoa). Với các nghĩa này, ta không thể áp dụng để giải thích câu "Người làm sao bào hao làm vậy".

Tuy nhiên, Từ điển tiếng Việt (1977) do Văn Tân chủ biên lại có chua thêm nghĩa: "Hùa theo: Ai nói làm sao bào hao làm vậy". Từ đây, ta có thể suy luận để giải thích câu tục ngữ này là ngụ ý phê phán hành động của kẻ hùa theo ai đó/người nào đó mà thiếu chín chắn, mù quáng, không cân nhắc suy nghĩ thấu đáo.

Còn các "dị bản" như "Người làm sao chiêm bao làm vậy", "Người làm sao khoản chiêm bao làm vậy" thì từ "chiêm bao" lọt vào đây quả kỳ lạ bởi không trùng nghĩa với "bào hao", có lẽ đây là cách nói trại của câu "Ngày làm sao chiêm bao làm vậy", đại khái ngày nghĩ về việc gì thì đêm mơ như vậy.


Từ "bào" trong tiếng Việt sở hữu lớp ngữ nghĩa đa dạng, khởi nguồn từ tên gọi một dụng cụ gọt nhẵn gỗ của thợ mộc. Ở khía cạnh biểu đạt ẩn dụ, từ này vừa mô tả cảm giác đau đớn như trong kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, vừa mang nét nghĩa bòn rút tài sản theo cách nói dân gian. Bên cạnh đó, "bào" còn mang nghĩa chiếc áo trang trọng tay rộng như long bào, cẩm bào hay hình ảnh hư ảo "bào ảnh" trong Cung oán ngâm khúc của tác giả Nguyễn Gia Thiều. Trong kho tàng thành ngữ tục ngữ, câu "Người làm sao bào hao làm vậy" hoặc dị bản "Ai nói sao bào hao làm vậy" ở Đại từ điển tiếng Việt năm 1999 từng gây ra không ít bất cập về mặt nghĩa. Do chưa rõ yếu tố từ cổ, Từ điển tục ngữ Việt năm 2010 của Nguyễn Đức Dương cùng Tục ngữ lược giải năm 1952 của Lê Văn Hòe đã chép lại thành "Người làm sao chiêm bao làm vậy" hay "khoản chiêm bao". Những giải thích suy diễn dựa trên giấc mơ hay tư chất con người trong Tự điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam năm 1990 của Nguyễn Lân vì thế mang tính mơ hồ. Nghiên cứu từ nguyên học cho thấy cụm từ "bào hao" bản chất là một từ gốc Hán có nghĩa là gầm thé, mô tả trạng thái giận dữ hoặc phát ra âm thanh lớn. Công trình Từ điển từ cổ xuất bản năm 2001 của tác giả Nguyễn Lộc đã giải thích chính xác nguồn gốc này, giải tỏa những suy đoán thiếu căn cứ kéo dài qua nhiều tập từ điển trước đó. Việc xác định đúng nghĩa gốc giúp độc giả thấu hiểu chuẩn xác sắc thái biểu đạt ban đầu của câu tục ngữ truyền thống.