Những 'kiến trúc sư' phía sau chùm tia xạ trị ung thư
Thứ ba, 13/10/2026, 08:00 (GMT+7) Thứ ba, 13/10/2026, 08:00 (GMT+7) Những 'kiến trúc sư' phía sau chùm tia xạ trị ung thư7h30, ông Tuấn đeo mặt nạ nhựa dẻo, trải qua ca xạ trị 10 phút - trong "bản đồ" tia xạ mà các bác sĩ, kỹ sư vật lý y khoa mất đến 24 tiếng để thiết kế.
Ca xạ là liều thứ 9 trong phác đồ 33 lần xạ trị để chữa bệnh ung thư vòm họng của ông Tuấn. Quá trình xạ trị sử dụng các chùm tia bức xạ ion hóa để tiêu diệt hoặc làm chậm quá trình phát triển tế bào ung thư. Điểm quan trọng nhất với kỹ thuật xạ trị điều biến liều (IMRT) là cần đưa chùm tia đến đúng khối u, liều đủ hiệu quả nhưng phải hạn chế tổn thương mô lành. Để đạt được điều đó đòi hỏi sự phối hợp của nhiều bên: bác sĩ chỉ định điều trị, kỹ sư vật lý y khoa xây kế hoạch chiếu tia dựa trên chỉ định, cuối cùng kỹ thuật viên thao tác máy - thực hiện chiếu tia theo kế hoạch đã vạch ra.
Như với ca bệnh của ông Tuấn, kỹ sư Võ Thị Trần Nhật Linh (Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM) dựa trên hình ảnh 3D chụp CT đa lát cắt mô phỏng, vẽ đường chuẩn xác cho chùm tia tiêu diệt khối u thông qua các phần mềm lập kế hoạch xạ trị hiện đại.
Từng góc chiếu, cường độ, số lượng chùm tia được tính toán chi tiết, sao cho liều bức xạ tập trung tiêu diệt tế bào ung thư, hạn chế ảnh hưởng các tế bào lành tính xung quanh đến mức thấp nhất. Cùng với đường đi tia xạ, các kỹ sư còn phải tính toán tư thế bệnh nhân, tạo dụng cụ cố định riêng biệt (mặt nạ nhiệt dẻo cho vùng đầu cổ, túi chân không cho vùng thân...) để giữ bệnh nhân bất động trong suốt quá trình chiếu tia xạ.
Cùng với phương án chiếu tia, hiệu quả của việc xạ trị còn phụ thuộc vào hệ thống máy hiện đại. Đảm bảo độ chính xác của máy xạ trị cũng là một trong những công việc quan trọng của kỹ sư vật lý y khoa.
BS.CKII Nguyễn Thế Hiển, Trưởng khoa Xạ trị, Trung tâm Ung Bướu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, chia sẻ trong xạ trị, bức xạ chỉ được phép phát ra khi mọi điều kiện an toàn được đáp ứng. Kỹ sư vật lý y khoa cùng toàn bộ êkíp giám sát từ hệ thống che chắn, liên động cửa, cảnh báo phát tia đến liều kế cá nhân của nhân viên. Mục tiêu là bảo đảm người bệnh nhận đúng liều điều trị, còn nhân viên và những người xung quanh không bị phơi nhiễm ngoài ý muốn, với sự hỗ trợ của các công nghệ, máy móc và kỹ thuật xạ trị hiện đại.
Vì đảm trách việc vận hành hệ thống, họ là những người đến sớm nhất và về sau cùng tại khoa Xạ trị, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM. Trung bình mỗi ngày, bệnh viện có hơn 30 ca xạ trị. Đến đợt cao điểm, số ca có thể tăng gấp đôi, những người kỹ sư phải ở bệnh viện đến 2-3h sáng.
Với kỹ sư Đỗ Thị Bích Ngọc, một ca làm bình thường bắt đầu từ 5h sáng mỗi ngày. Bước chân chị rảo đều, di chuyển như con thoi giữa hai căn phòng nằm liền kề nhau: phòng máy gia tốc phát tia xạ và nơi đặt hệ thống máy tính điều khiển - theo dõi phát tia. Rất nhiều đầu việc chị phải thực hiện song song ở cả hai phòng.
Nhấn nút khởi động toàn bộ hệ thống Versa HD - máy xạ trị gia tốc tuyến tính hơn 100 tỷ đồng của hãng Elekta (Thụy Điển), ngày làm việc của nữ kỹ sư bắt đầu, với loạt công đoạn kiểm tra tỉ mỉ, không nghỉ trong suốt 75 phút.

Sau khi máy gia tốc Versa HD đã nhận nguồn điện, chị bước sang phòng máy tính - "bộ não" điều khiển máy xạ trị. Tại đây, 8 màn hình máy tính xếp sát nhau, thể hiện những thông số chi tiết của Versa HD. Nữ kỹ sư bắt đầu đặt lệnh để máy phát các liều xạ điều trị ung thư theo mức tăng dần lên, nhằm làm ấm bóng bức xạ, tránh tình trạng tăng năng lượng đột ngột gây hư hỏng, thậm chí ngừng hoạt động.

Khi bóng CT đạt độ ấm nhất định - điều kiện để bắt đầu những ca xạ trị đầu tiên, chị trở về phòng máy gia tốc, kiểm tra các chuyển động cơ khí của máy. Bàn tay chị thoăn thoắt ấn vào các nút trên bảng điều khiển: kéo bàn nằm, xoay khung phát tia bức xạ...
Lúc máy xạ trị Versa HD đã khởi động 30 phút, chị Ngọc chuyển sang kiểm tra nhiệt độ, độ ẩm của căn phòng - những yếu tố không thể bỏ qua để máy vận hành chính xác. Đặc điểm của Versa HD là khi hoạt động, máy sẽ nóng, cần đến hệ thống làm mát để cân bằng lại. Hệ thống làm mát này đặt tại một buồng nhỏ, bên trong khuôn viên của phòng máy. Chị Ngọc lần lượt kiểm tra van áp suất nước của hệ thống làm mát, đồng hồ đo nhiệt độ của nước. Nếu áp suất thấp, sẽ bơm không đủ nước và không đủ làm mát máy. Đặc biệt, nhiệt độ nước phải duy trì ở mức 28 độ C để máy hoạt động được, thấp hoặc cao hơn con số này đều không khả thi.
Để đảm bảo an toàn cho các tình huống khẩn cấp, chị cũng bật tắt một loạt hệ thống nút điều khiến: cửa phòng máy, nút dừng khẩn, cảnh báo và hệ thống giám sát của căn phòng, đảm bảo tia xạ không lọt ra ngoài.
Bước cuối cùng, để đánh giá độ ổn định và độ chính xác của liều bức xạ phát ra, nữ kỹ sư dùng các phantom (mô hình bệnh nhân) hình dẹp, hình rubic, đặt vào máy theo các tư thế điều trị rồi bắn tia xạ mô phỏng. Mỗi loại tia bức xạ lại cần kiểm tra bằng một phantom khác nhau, vì thế chị Ngọc gần như không có thời gian ngồi yên hay đứng yên một chỗ.
6h30, hoàn thành công việc khởi động máy xạ trị, chị Ngọc bàn giao cho kỹ thuật viên để đưa bệnh nhân vào điều trị. Còn chị, đôi chân lại rảo nhanh, tiếp tục tới phòng máy chụp CT mô phỏng, kiểm tra hệ thống máy tại đây trước khi đưa vào phục vụ bệnh nhân.
*Tên bệnh nhân đã thay đổi
Nội dung: Kim Anh - Ảnh: Thanh Tùng