Trong quá trình chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang nông nghiệp hàng hóa, hiện đại và có giá trị gia tăng cao, đất đai không chỉ là tư liệu sản xuất mà còn là điều kiện quan trọng để các hợp tác xã tổ chức lại sản xuất. Thế nhưng, tình trạng đất manh mún, thời hạn thuê ngắn và những vướng mắc về tích tụ, tập trung đất đai đã khiến cho nhiều hợp tác xã khó thực hiện những kế hoạch đầu tư dài hạn.
Khi đất đai trở thành giới hạn của đầu tư
Hợp tác xã Nông nghiệp Thành Hưng, xã Lập Thạch, tỉnh Phú Thọ hiện có 7 thành viên đang trồng khoảng 10ha thanh long, sản lượng bình quân từ 250 đến 300 tấn hằng năm. Sản phẩm được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, có thị trường tiêu thụ tương đối ổn định với giá từ 25.000 đến 35.000 đồng/kg. Nhờ hiệu quả sản xuất đạt cao, hợp tác xã đã mở rộng diện tích, đầu tư công nghệ sau thu hoạch, chế biến sâu và đa dạng hóa sản phẩm. Nhưng để đi xa hơn, hợp tác xã đang gặp một rào cản rất cơ bản, đó là đất sản xuất.
Giám đốc hợp tác xã Nông nghiệp Thành Hưng Nguyễn Đắc Thành cho biết, toàn bộ 10ha đất trồng thanh long hợp tác xã thuê từ chính quyền địa phương trong 5 năm. Hiện nay, do hợp đồng thuê đất đã hết và chưa ký lại cho nên hợp tác xã không thể mạnh dạn xuống vốn đầu tư vào cây giống, hệ thống tưới, máy móc và hạ tầng, nhất là những hạng mục cần nhiều năm mới thu hồi vốn.
Đây không phải là trường hợp cá biệt. Khi thời hạn sử dụng đất chưa ổn định, thay vì mở rộng quy mô và nâng cấp hạ tầng sản xuất, không ít hợp tác xã phải ưu tiên những phương án có vốn đầu tư vừa phải, thời gian thu hồi ngắn, làm hạn chế khả năng nâng cao năng lực sản xuất và đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Tại Lập Thạch, những thửa ruộng nhỏ nằm xen kẽ, phân tán vẫn phổ biến. Địa hình trung du, miền núi bị chia cắt càng khiến cho quá trình dồn điền đổi thửa, tập trung đất gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, nhu cầu về đất sản xuất ổn định để phát triển nhà màng, kho bảo quản, vùng nguyên liệu hay nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ngày càng lớn. Địa phương vẫn còn những diện tích đất sử dụng kém hiệu quả nhưng hợp tác xã khó tiếp cận để mở rộng sản xuất. Người không còn nhu cầu canh tác lại chưa sẵn sàng chuyển nhượng hoặc cho thuê dài hạn; người có thể cho thuê thì còn e ngại rủi ro, chỉ chấp nhận thời hạn ngắn.
Theo Trưởng phòng Nông nghiệp và Môi trường xã Lập Thạch Dương Văn Tiến, phát triển thị trường cho thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp có thể góp phần khắc phục tình trạng manh mún, tạo điều kiện cho sản xuất quy mô lớn. Tuy nhiên, địa hình trung du, đất đai nhỏ lẻ, chia cắt cùng những vướng mắc về quy định, thẩm quyền khiến cho việc tích tụ đất còn nhiều khó khăn. Thực tế, hợp tác xã phải thỏa thuận với từng hộ và nếu chỉ một vài trường hợp chưa đồng thuận cũng có thể ảnh hưởng cả vùng sản xuất. Vì vậy, tích tụ đất đai không chỉ là mở rộng diện tích, mà cần có một cách tổ chức lại nguồn lực phù hợp, bảo đảm lợi ích của người dân và tạo quỹ đất đủ lớn, đủ ổn định để hợp tác xã đầu tư lâu dài.
Tích tụ ruộng đất để đi đường dài
Nghị quyết số 18-NQ/TW về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển đã đặt vấn đề phát triển thị trường quyền sử dụng đất, trong đó có thị trường cho thuê đất nông nghiệp và nghiên cứu cơ chế ngân hàng cho thuê đất nông nghiệp. Trong đó, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát có thể mở ra cách tiếp cận phù hợp đối với những vấn đề mới, phức tạp và còn nhiều cách thức khác nhau để giải quyết. Đây có thể là những hướng đi quan trọng để kết nối người có đất nhưng không trực tiếp sản xuất với những hợp tác xã, doanh nghiệp và chủ thể có năng lực tổ chức sản xuất.
Tuy nhiên, để thị trường vận hành được, trước hết phải có dữ liệu đất đai đầy đủ và đáng tin cậy. Theo Phó Chi cục trưởng Quản lý đất đai, đo đạc bản đồ và viễn thám (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Phú Thọ) Tạ Ngọc Long, cơ sở dữ liệu đất đai minh bạch sẽ giúp nhận diện rõ hiện trạng, từ đó xác định khu vực phù hợp để hình thành vùng sản xuất tập trung. Đồng thời, dữ liệu đầy đủ giúp giảm chi phí tìm kiếm, xác minh, tạo điều kiện để hợp tác xã, doanh nghiệp tiếp cận vùng nguyên liệu và để người dân tham gia liên kết, cho thuê hoặc góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Ở góc độ quản lý, Phó Cục trưởng Quản lý Đất đai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Lê Văn Bình khẳng định, tập trung đất đai phải gắn với thử nghiệm có giới hạn, rõ địa bàn, thời gian, đối tượng, cơ chế giám sát và tiêu chí đánh giá để kịp thời hoàn thiện, nhân rộng hoặc điều chỉnh. Mục tiêu cuối cùng không phải tạo ra những cánh đồng lớn về diện tích, mà tổ chức lại đất đai thành vùng sản xuất hàng hóa, tạo điều kiện để hợp tác xã đầu tư công nghệ, doanh nghiệp liên kết, nông dân nâng cao giá trị và ổn định sinh kế.
Khi những điểm nghẽn thể chế được tháo gỡ, đất đai sẽ không chỉ là tư liệu sản xuất mà còn tạo dư địa để người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp đầu tư dài hạn, thúc đẩy nông nghiệp chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang hàng hóa hiện đại, xanh và có giá trị cao.
Từ những thửa đất đang phân tán hôm nay đến những vùng nguyên liệu quy mô lớn ngày mai là cả một quá trình đòi hỏi sự đồng thuận, thị trường minh bạch và một hành lang pháp lý đủ thông thoáng. Khi dữ liệu đất đai được làm sạch, quyền lợi của người có đất được bảo đảm, cơ chế thuê và tập trung đất vận hành thuận lợi hơn, những “điểm nghẽn” sẽ từng bước được tháo gỡ. Khi ấy, đất đai không còn chỉ là giới hạn của sản xuất, mà thật sự trở thành nguồn lực phát triển; hợp tác xã có thêm không gian để lớn mạnh, doanh nghiệp có thêm niềm tin để đầu tư dài hạn, còn người nông dân có thêm cơ hội để tham gia sâu hơn vào nền nông nghiệp hàng hóa hiện đại, xanh và có giá trị cao.
SƠN HÀ