Bảo đảm quyền học tập của người dân
Ngày 10/10, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết đang lấy ý kiến góp ý Dự thảo Thông tư quy định về điều kiện bảo đảm và nội dung, quy trình kiểm tra công nhận đạt chuẩn giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ.
Dự thảo được xây dựng nhằm triển khai Nghị định số 353/2026/NĐ-CP ngày 11/9/2026 của Chính phủ quy định về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 5 đến 6 tuổi, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ; đồng thời cụ thể hóa các yêu cầu về điều kiện bảo đảm, quản lý dữ liệu, kiểm tra, công nhận và duy trì kết quả giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ.
Điểm xuyên suốt của Dự thảo là bảo đảm quyền học tập của người dân, quản lý dựa trên dữ liệu, huy động các nguồn lực phù hợp với điều kiện thực tế và nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương trong tổ chức thực hiện, duy trì kết quả giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ.
Rà soát theo nơi cư trú thực tế, bảo đảm không bỏ sót người học
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, đối tượng rà soát sẽ là người trong độ tuổi giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ đang cư trú thực tế trên địa bàn cấp xã, không phân biệt nơi đăng ký hộ khẩu thường trú hoặc nơi đăng ký hộ tịch gốc.
Đưa ra quy định này tại Dự thảo, theo Bộ Giáo dục và Đào tạo là nhằm giúp địa phương chủ động rà soát, xác định đúng đối tượng, nắm bắt tình trạng học tập và xây dựng phương án huy động người học phù hợp; đồng thời hạn chế bỏ sót trẻ em trong độ tuổi giáo dục bắt buộc, người chưa biết chữ và người có nguy cơ tái mù chữ, nhất là tại các địa bàn có biến động dân cư.
Việc rà soát không chỉ nhằm xác định số lượng người thuộc diện quản lý mà còn phục vụ theo dõi quá trình tham gia học tập, kết quả hoàn thành chương trình và nhu cầu hỗ trợ của từng nhóm đối tượng.
Quản lý bằng dữ liệu, có mã định danh
Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất tại Dự thảo quy định cụ thể về dữ liệu, hệ thống thông tin và mã định danh phục vụ quản lý giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ.
Mỗi cá nhân được quản lý bằng mã định danh duy nhất trong hệ thống dữ liệu, góp phần theo dõi thống nhất quá trình học tập, kết quả hoàn thành chương trình và tình trạng đạt chuẩn theo quy định.
Dữ liệu được cập nhật, quản lý và khai thác trên môi trường số, làm căn cứ theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện, lập báo cáo, thống kê và phục vụ kiểm tra, công nhận đạt chuẩn.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, cách tiếp cận này hướng tới giảm sự phụ thuộc vào việc tổng hợp hồ sơ thủ công, hạn chế trùng lặp, sai lệch số liệu và nâng cao khả năng đối chiếu, kiểm chứng kết quả. Việc kết nối, chia sẻ dữ liệu thực hiện theo quy định của pháp luật, đồng thời bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Bảo đảm điều kiện để thực hiện giáo dục bắt buộc
Đối với giáo dục bắt buộc cấp tiểu học và trung học cơ sở, tại Dự thảo quy định các điều kiện bảo đảm về đội ngũ, mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và kinh phí thực hiện.
Cơ sở giáo dục phải bảo đảm đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên theo vị trí việc làm và quy định hiện hành. Địa phương phải phân công người theo dõi công tác giáo dục bắt buộc trên địa bàn.
Mạng lưới cơ sở giáo dục cần được quy hoạch, bố trí phù hợp, bảo đảm người học tiếp cận trường lớp thuận lợi, an toàn và đáp ứng nhu cầu giáo dục hòa nhập đối với người khuyết tật có khả năng học tập.
Các điều kiện về phòng học, thiết bị dạy học tối thiểu, sân chơi, bãi tập, nước sạch, công trình vệ sinh và tổ chức dạy học được xác định gắn với các quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Dự thảo cũng quy định việc bố trí kinh phí trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm theo phân cấp, cùng các nguồn tài trợ, viện trợ và nguồn hợp pháp khác.
Các quy định này hướng tới bảo đảm giáo dục bắt buộc không chỉ được thực hiện ở khía cạnh huy động người học mà còn bảo đảm các điều kiện cần thiết để tổ chức dạy học, hỗ trợ người học và duy trì chất lượng giáo dục.
Huy động nguồn lực tại chỗ, tạo điều kiện linh hoạt trong công tác xóa mù chữ
Dự thảo quy định điều kiện đối với người tham gia dạy học chương trình xóa mù chữ, bên cạnh đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục.
Theo đó, người tham gia dạy học phải đáp ứng các yêu cầu về phẩm chất, sức khỏe, trình độ đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định.
Đối với xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã biên giới, đặc khu, hải đảo, trường hợp không bố trí được người đáp ứng yêu cầu về trình độ đào tạo thì có thể bố trí người tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên, nếu đáp ứng các điều kiện khác theo Dự thảo.
Dự thảo đồng thời xác định việc ưu tiên huy động người biết tiếng dân tộc thiểu số, am hiểu văn hóa, phong tục, tập quán địa phương; người có uy tín trong cộng đồng; cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang đóng quân trên địa bàn tham gia dạy học xóa mù chữ.
Thời gian và địa điểm học được bố trí linh hoạt, phù hợp với điều kiện lao động, sản xuất, sinh hoạt, ngôn ngữ, văn hóa và khả năng tham gia của người học. Việc sử dụng tài liệu song ngữ và học liệu số phù hợp được khuyến khích.
Đối với lớp tổ chức ngoài cơ sở giáo dục, Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp cơ sở giáo dục trên địa bàn tổ chức, quản lý về chuyên môn, hồ sơ lớp học và đánh giá kết quả học tập theo quy định.
Kiểm tra, công nhận dựa trên dữ liệu, gắn với trách nhiệm duy trì kết quả
Bộ Giáo dục và Đào tạo dự kiến quy định nội dung kiểm tra công nhận gồm kiểm tra hồ sơ đề nghị công nhận, kiểm tra dữ liệu trên hệ thống thông tin và kiểm tra thực tế theo quy định tại Nghị định số 353/2026/NĐ-CP.
Quy trình kiểm tra, công nhận được quy định đối với cả cấp xã và cấp tỉnh, gắn với trách nhiệm tự kiểm tra, đánh giá, lập hồ sơ, tổ chức kiểm tra và quyết định công nhận theo thẩm quyền.
Dự thảo quy định, đối với xã không duy trì được mức độ đạt chuẩn giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ, việc kiểm tra công nhận khôi phục lại được thực hiện như kiểm tra công nhận lần đầu.
Đối với cấp tỉnh, trường hợp tỉnh hai năm liền không duy trì được kết quả đạt chuẩn theo mức độ về giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ thì việc kiểm tra công nhận khôi phục lại được thực hiện như kiểm tra công nhận lần đầu.
THANH XUÂN