Chính phủ đã ban hành Nghị định số 181, quy định về quản lý, sử dụng người giữ chức danh, chức vụ trong doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Nghị định áp dụng với doanh nghiệp Nhà nước theo quy định của Luật Doanh nghiệp; doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ không quá 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.
Nghị định số 181 của Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng người giữ chức danh, chức vụ trong doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp (Ảnh minh họa: Nguyễn Vy).
Đối tượng áp dụng tại nghị định là người giữ chức danh, chức vụ tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, bao gồm chủ tịch hội đồng thành viên; chủ tịch công ty (đối với doanh nghiệp không tổ chức theo mô hình Hội đồng thành viên); thành viên hội đồng thành viên; tổng giám đốc hoặc giám đốc, trừ trường hợp thuê tổng giám đốc, giám đốc; kiểm soát viên; người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ không quá 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết…
Những trường hợp không được từ chức
Trong đó, Điều 34 của nghị định đề cập đến một số trường hợp người quản lý doanh nghiệp Nhà nước, người đại diện phần vốn Nhà nước không được từ chức.
Cụ thể, người quản lý, người đại diện không được từ chức khi đang đảm nhận nhiệm vụ liên quan trọng yếu đến quốc phòng, an ninh quốc gia, cơ mật, chưa hoàn thành nhiệm vụ mà cần tiếp tục đảm nhận nhiệm vụ do bản thân đã thực hiện, nếu từ chức sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiệm vụ mà đơn vị giao.
Ngoài ra, người quản lý, người đại diện không được từ chức khi đang trong thời gian chịu sự thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra của các cơ quan chức năng có thẩm quyền.
Các trường hợp không được từ chức khác bao gồm bị cơ quan có thẩm quyền kết luận suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; vi phạm những điều đảng viên không được làm; vi phạm trách nhiệm nêu gương, gây bức xúc trong dư luận, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân và cơ quan, đơn vị nơi đang công tác; bị cơ quan có thẩm quyền kết luận vi phạm tiêu chuẩn chính trị theo quy định về bảo vệ chính trị nội bộ của Đảng đến mức phải miễn nhiệm.
Người quản lý, người đại diện cũng không được từ chức trong trường hợp để doanh nghiệp thuộc quyền quản lý, phụ trách hoặc cấp dưới trực tiếp xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực gây hậu quả rất nghiêm trọng theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền nhưng chưa đến mức phải xem xét xử lý kỷ luật theo quy định; là người đứng đầu để doanh nghiệp thuộc quyền quản lý, phụ trách trực tiếp xảy ra mâu thuẫn, mất đoàn kết nghiêm trọng theo kết luận của cơ quan có thẩm quyền; theo kiến nghị của cơ quan có thẩm quyền.
Những trường hợp được từ chức
Việc xem xét cho từ chức đối với người quản lý doanh nghiệp Nhà nước, người đại diện phần vốn Nhà nước được thực hiện trong các trường hợp tại Khoản 1 Điều 34 của nghị định.
Cụ thể, người quản lý, người đại diện được từ chức do bản thân nhận thấy hạn chế về năng lực lãnh đạo, quản lý hoặc không còn đủ uy tín để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao; có trên 50% số phiếu tín nhiệm thấp tại kỳ lấy phiếu theo quy định; vì các lý do chính đáng khác của cá nhân; là người đứng đầu để doanh nghiệp thuộc quyền quản lý, phụ trách trực tiếp hoặc cấp dưới trực tiếp xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nghiêm trọng nhưng chưa đến mức phải xem xét, xử lý kỷ luật theo quy định.
Trường hợp được từ chức khác là khi người quản lý, người đại diện có 2 năm không liên tiếp bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ được giao trong thời hạn giữ chức vụ; có hành vi vi phạm về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân và doanh nghiệp.
Người quản lý, người đại diện được xem xét từ chức khi để người thân (vợ, chồng, con) vi phạm pháp luật của Nhà nước; sa vào tệ nạn xã hội, gây bức xúc trong dư luận, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín của bản thân và doanh nghiệp; để người khác lợi dụng chức vụ, quyền hạn của bản thân để trục lợi gây hậu quả nghiêm trọng, bức xúc trong dư luận, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín cá nhân và cơ quan (trừ trường hợp chứng minh được bản thân không biết).
Trường hợp người quản lý, người đại diện được xem xét từ chức khi không dám làm, không dám chịu trách nhiệm, đùn đẩy né tránh trách nhiệm, không thực hiện công việc thuộc thẩm quyền theo chức năng, nhiệm vụ được giao, gây hậu quả rất nghiêm trọng, dư luận xấu, bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Ngoài các trường hợp quy định tại khoản này, căn cứ vào thực tế công việc và theo thẩm quyền, cấp có thẩm quyền quyết định việc cho thôi giữ chức vụ đối với người đại diện phần vốn Nhà nước tại doanh nghiệp.