Kinh tế, nhân văn cao hơn kỹ thuật, công nghệ
Theo thống kê của Thanh Niên, tại các trường phía nam, tỷ lệ sinh viên (SV) tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc tăng dần trong những năm trở lại đây. Đồng thời tỷ lệ này ở các trường đào tạo khối ngành kinh tế, xã hội nhân văn thường cao hơn kỹ thuật - công nghệ - sức khỏe.
Vào tháng 3.2023, ĐH Kinh tế TP.HCM trao bằng tốt nghiệp cho 3.978 SV chính quy. Thống kê của trường này cho thấy có 43 SV xuất sắc, chiếm 0,01%; 1.994 SV giỏi, chiếm 50%. Như vậy tổng tỷ lệ SV xuất sắc và giỏi là hơn 50%.
Năm 2024 ĐH này có 4.934 tân cử nhân thì có 107 SV xuất sắc, chiếm 2,16%, giỏi là 2.906, chiếm 58,89%, tổng tỷ lệ giỏi và xuất sắc là 61%; năm 2025 là 65% (xuất sắc 15%), trong khi 10 năm trước tỷ lệ này chỉ khoảng 24,5%.

Tỷ lệ SV tốt nghiệp giỏi và xuất sắc có xu hướng tăng dần trong những năm gần đây
ẢNH MINH HỌA: NGỌC DƯƠNG
Ở Trường ĐH Kinh tế - Luật (ĐH Quốc gia TP.HCM), tỷ lệ SV giỏi trở lên khoảng trên 45%.
Tại đợt tốt nghiệp cuối năm 2022, Trường ĐH Công nghệ kỹ thuật TP.HCM trao bằng cho 2.079 kỹ sư, cử nhân hệ chính quy thì chỉ có 3 SV tốt nghiệp loại xuất sắc (chiếm 0,14%); 397 SV xếp loại giỏi (chiếm 19,1%). Mới đây nhất, đợt tháng 1, trong số 4.507 SV hệ chính quy, có 215 SV loại xuất sắc, chiếm 4,77%, và 1.366 SV loại giỏi, chiếm 30,31%.
Trong đợt tốt nghiệp tháng 10.2022, tỷ lệ SV tốt nghiệp giỏi và xuất sắc Trường ĐH Luật TP.HCM khoảng 16%. Năm 2024 tỷ lệ này khoảng 18% (0,6% xuất sắc và 17,3% giỏi). Tại lễ tốt nghiệp được tổ chức tháng 8.2025, có tổng số 1.600 SV nhận bằng, tỷ lệ giỏi và xuất sắc là 31,43% SV (2,76% xuất sắc và 28,67% giỏi). Mới đây nhất, trong lễ tốt nghiệp tháng 8.2026, trường có khoảng 1.750 tân cử nhân thì có 62 SV đạt loại xuất sắc, chiếm tỷ lệ 3,5%.
Tại Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM, xếp loại tốt nghiệp bình quân của SV trường khoảng 75% khá, 20% giỏi và chỉ 0,5% xuất sắc. Nhưng mới đây trong đợt trao bằng tốt nghiệp vào tháng 5, trường có 52,9% tân cử nhân tốt nghiệp loại giỏi và 2,4% loại xuất sắc.
Trong một đợt tốt nghiệp đầu năm 2026, trong số 2.186 tân cử nhân Trường ĐH Quy Nhơn, có 74 SV đạt loại xuất sắc, chiếm 3,38% và 502 SV loại giỏi, chiếm 22,96%.
Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM tỷ lệ tốt nghiệp xuất sắc và giỏi thường ở mức 15 - 20% tùy năm. Trường ĐH Công thương TP.HCM cũng có khoảng 1 - 3% loại xuất sắc và trên dưới 20% loại giỏi tùy năm.
Thống kê kết quả tốt nghiệp năm 2026 trên cùng 1 khóa của Trường ĐH Văn Lang cho thấy tỷ lệ tốt nghiệp loại giỏi chiếm 33,54%, xuất sắc là 0,63%.
Trong khi đó, tại Trường ĐH Đà Lạt, tỷ lệ SV tốt nghiệp loại xuất sắc hằng năm của trường chiếm 1%, giỏi là 10%. Đợt tốt nghiệp mới nhất của Trường ĐH Nam Cần Thơ vào tháng 7 ghi nhận 1,34% SV loại xuất sắc và 11,42% SV tốt nghiệp loại giỏi...
Tỷ lệ SV tốt nghiệp xuất sắc của Trường ĐH Bách khoa TP.HCM và Y Dược TP.HCM ở một số năm khoảng dưới 1% và giỏi cũng chỉ trên 10% hoặc dưới 30%.

Điều quan trọng không chỉ là có bao nhiêu em tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc, mà là những SV ấy thực sự giỏi ở năng lực nào, có thể làm được gì và có đáp ứng yêu cầu của xã hội hay không
ảnh: Đào Ngọc Thạch
Đánh giá dễ dàng hơn hay SV có nhiều điều kiện để giỏi hơn?
GS-TSKH Hoàng Văn Kiếm, nguyên Chủ tịch Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước ngành công nghệ thông tin, hiện là cố vấn cao cấp công nghệ thông tin, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và đào tạo Trường ĐH Quốc tế Sài Gòn, nhận định tỷ lệ 50 - 80% SV tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc tại một số trường là con số cần được phân tích nghiêm túc. Theo đó, không thể chỉ nhìn vào tỷ lệ cao để kết luận chất lượng đào tạo tốt hay xấu, mà phải xem SV thực sự đạt được những năng lực nào sau quá trình học tập.
"Nếu SV đáp ứng đầy đủ chuẩn đầu ra ở mức giỏi, xuất sắc thì nhà trường cần ghi nhận xứng đáng. Không nên áp đặt một tỷ lệ khống chế, buộc phải có một số lượng SV đạt loại trung bình hoặc khá. Giáo dục không phải là cuộc cạnh tranh mà thành tích của người này nhất thiết làm giảm thành tích của người khác. Tuy nhiên, nếu tỷ lệ SV tốt nghiệp giỏi, xuất sắc tăng trong khi năng lực thực hành, tư duy độc lập, khả năng giải quyết vấn đề và mức độ đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp chưa tương xứng thì cần xem xét lại cách đánh giá và bảo đảm chất lượng đào tạo. Điều quan trọng không chỉ là có bao nhiêu em tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc, mà là những SV ấy thực sự giỏi ở năng lực nào, có thể làm được gì và có đáp ứng yêu cầu của xã hội hay không", GS Kiếm cho hay.
Lý giải về tỷ lệ này, ông Kiếm cho rằng một phần do SV ngày nay có nhiều điều kiện học tập thuận lợi hơn các thế hệ trước. Internet, thư viện số, khóa học trực tuyến, công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) và nguồn học liệu phong phú giúp các em tiếp cận tri thức nhanh chóng, chủ động hơn. Phương pháp giảng dạy tích cực, nếu được triển khai tốt, cũng giúp người học phát triển năng lực và đạt kết quả cao hơn.
Nguyên nhân thứ hai, theo GS Kiếm, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận rằng một số cách đánh giá có thể chưa đủ nghiêm túc hoặc chưa đủ sức phân hóa năng lực. Nếu việc đánh giá chủ yếu dựa vào bài thi tái hiện kiến thức, bài tập quen thuộc, điểm chuyên cần hoặc bài tập nhóm thì điểm số có thể chưa phản ánh đầy đủ năng lực SV.
"Cần phân biệt giữa việc nâng cao chất lượng học tập thực sự với việc gia tăng thành tích trên bảng điểm. Nếu chất lượng dạy và học được cải thiện, SV có điều kiện tiếp cận tri thức và công nghệ tốt hơn thì tỷ lệ giỏi tăng là tín hiệu tích cực. Nhưng nếu tỷ lệ này tăng chủ yếu do đề thi dễ, cách chấm thiếu phân hóa, đánh giá thiên về ghi nhớ hoặc tiêu chí xếp loại dễ dãi thì đó là vấn đề đáng lo ngại", GS Kiếm nhấn mạnh.
Đồng tình, PGS-TS Nguyễn Hữu Huy Nhựt, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Hoa Sen, cho rằng SV hiện nay có điều kiện tiếp cận học liệu, công cụ và các hình thức hỗ trợ học tập tốt hơn. Phương pháp dạy và học cũng thay đổi, vì vậy kết quả học tập của các em có thể được cải thiện.
PGS-TS Nhựt chia sẻ: "Mặt khác, nếu điểm số chủ yếu dựa vào ghi nhớ, bài tập quen thuộc hoặc sản phẩm nhóm mà chưa xác định rõ năng lực và đóng góp của từng cá nhân, kết quả có thể chưa phản ánh đầy đủ SV hiểu và vận dụng kiến thức đến đâu. Vì thế, câu hỏi cốt lõi không chỉ là SV có học giỏi hơn hay không, mà là điểm số đang đo điều gì: mức độ ghi nhớ kiến thức, khả năng vận dụng, tư duy độc lập hay năng lực thực hiện công việc chuyên môn? Muốn trả lời thuyết phục, các trường cần đối chiếu kết quả đánh giá với chuẩn đầu ra, chất lượng bài làm và năng lực SV thể hiện trong những tình huống khác nhau". (còn tiếp)
Theo thang điểm 4 có lợi hơn so với thang điểm 10
Về cách kiểm tra đánh giá hiện nay, tiến sĩ Nguyễn Trung Nhân, Trưởng phòng Đào tạo Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, cho biết học chế tín chỉ với cách đánh giá theo thang điểm 4,0 hiện nay có lợi hơn so với thang điểm 10 trước đây. "SV chỉ cần đạt từ 3,2 điểm trở lên là đạt loại giỏi và trên 3,6 đạt loại xuất sắc, trong khi ở thang điểm 10, SV phải có điểm trên 8,0 mới được xếp loại giỏi và trên 9,0 mới được loại xuất sắc. Một số SV nếu đánh giá theo thang điểm 10 thì chưa được 8,0 nhưng lại đạt điểm trên 3,2 theo thang điểm 4,0 và được xếp loại giỏi. Đây chính là một trong những yếu tố làm tăng số lượng SV giỏi và xuất sắc", tiến sĩ Nhân cho hay.
Ở góc độ khác, tiến sĩ Trần Hữu Duy, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Đà Lạt, thông tin quy chế đào tạo cho phép SV được đăng ký thi lại để cải thiện điểm không giới hạn số lượng dù SV được 4 điểm hay 6, 7, 8 điểm. Vì thế, SV nào có mong muốn từ điểm khá lên giỏi, từ giỏi lên xuất sắc đều có thể phấn đấu để đạt được. Tuy nhiên đó chỉ là một nguyên nhân, tiến sĩ Duy cho rằng quan trọng hơn là quan điểm về việc đánh giá của mỗi trường. Điều lo ngại nhất là nếu các trường chạy theo thành tích tỷ lệ giỏi, xuất sắc mà hạ thấp tiêu chuẩn, hoặc đánh giá người học nhẹ nhàng thì tất yếu tỷ lệ này sẽ tăng lên.