Bỏ qua điều hướng
•

Siết 'lạm phát điểm số': Vì sao điểm cao nhưng chưa chắc sinh viên học thật?

Siết 'lạm phát điểm số': Vì sao điểm cao nhưng chưa chắc sinh viên học thật?
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Bộ GD-ĐT vừa yêu cầu các cơ sở giáo dục đại học kiểm soát thực chất kết quả học tập, xử lý tình trạng 'lạm phát điểm số' và xác minh đóng góp thực của người học khi sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI).

Từ số báo này, Thanh Niên bắt đầu loạt bài tìm hiểu thực tế việc đào tạo, kiểm tra, đánh giá và xếp loại tốt nghiệp ở các trường đại học (ĐH) để hiểu rõ lý do Bộ GD-ĐT đặt ra yêu cầu nói trên trong giai đoạn hiện nay.

Siết 'lạm phát điểm số': Vì sao điểm cao nhưng chưa chắc sinh viên học thật? - Ảnh 1.

Bài nhóm, thuyết trình nhóm là cần thiết nhưng nếu chỉ chấm sản phẩm cuối cùng thì không đánh giá đúng năng lực cá nhân của sinh viên

ẢNH: Y.T TẠO BẰNG AI

"Có mặt chủ yếu để điểm danh"

Một thực tế là sinh viên (SV) dù có mặt đầy đủ trên lớp nhưng chỉ một số ít tập trung nghe giảng, nhiều người khác mải lướt điện thoại, làm việc riêng.

13 giờ, tiếng chuông báo hiệu bắt đầu tiết học buổi chiều tại một trường ĐH ở Đồng Nai. Thế nhưng, trong lớp học mà PV Thanh Niên có mặt chỉ lác đác vài SV. Trong khi đó, giảng viên đã đến từ 20 phút trước, chuẩn bị sẵn sàng cho buổi học. Gần 1 giờ sau, lớp mới dần đông hơn.

Điều khiến PV bất ngờ là dù lớp có khoảng 40 SV, số người thực sự chăm chú nghe giảng chỉ tập trung ở những dãy bàn phía trên. Ở phía dưới và cuối lớp, người lướt mạng, người tranh thủ "chạy deadline", thậm chí có SV ngủ gục ngay tại chỗ ngồi. Có lúc, lớp học ồn ào không khác gì họp chợ, giảng viên thì vẫn giảng bài.

Kể với PV Thanh Niên, giảng viên bày tỏ ngán ngẩm khi tình trạng này diễn ra trong nhiều buổi học.

Từng có hàng chục năm giảng dạy ĐH, TS Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ GD-ĐT), nhìn nhận đây là hiện tượng đáng lo ngại, dù không phải SV nào cũng như vậy. Ông Vinh nêu thực tế ở một số giảng đường, nhìn thì thấy lớp khá đông, nhưng quan sát kỹ sẽ thấy chỉ SV ngồi ở 2 - 3 dãy bàn đầu thực sự tập trung nghe giảng. Phía sau, có em lướt điện thoại, làm việc riêng, thậm chí chẳng quan tâm giảng viên nói gì. Các em có mặt để được điểm danh, chứ không phải để học.

PGS-TS Đỗ Văn Dũng, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM (nay là Trường Công nghệ kỹ thuật TP.HCM), cố vấn cao cấp tại Tập đoàn Đèo Cả, đồng tình về thực trạng "có mặt nhưng không tham gia" của một bộ phận SV.

Giảng viên T., dạy ngành lịch sử tại TP.HCM, cho rằng việc lên lớp đầy đủ nhưng không tập trung khiến chất lượng học tập không tương xứng với công sức SV bỏ ra.

Tiến sĩ Cam Anh Tuấn, Trưởng khoa Lưu trữ học và quản trị văn phòng, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội, thì lưu ý hiện tượng này không xảy ra ở tất cả SV. Theo ông Tuấn, cần xem xét nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn có SV chưa thực sự yêu thích ngành đã chọn, chưa tìm được động lực hoặc chưa thích ứng với yêu cầu tự học ở bậc ĐH.

Tâm lý "chỉ cần qua môn"

Khi PV Thanh Niên khảo sát một nhóm SV về mục tiêu học tập ở một số môn học, đặc biệt là các môn đại cương, không ít bạn trả lời: "Chỉ cần qua môn là được!".

Về vấn đề này, giảng viên T. cho biết tâm lý học để qua môn là khá phổ biến, còn TS Hoàng Ngọc Vinh nhận định điều này rất đáng ngại bởi khi ấy SV không còn quan tâm mình học được gì, làm được gì. "ĐH là nơi người trẻ chuẩn bị năng lực để bước vào đời, chứ không phải nơi dành 4 năm để gom tín chỉ và nhận một tấm bằng", ông Vinh nói.

Theo PGS-TS Đỗ Văn Dũng, điểm số hiện nay là kết quả của 3 yếu tố: kiểm tra ghi nhớ ngắn hạn, hoàn thành yêu cầu hành chính của môn, trong khi lại thiếu kiểm tra năng lực thực tế như chẩn đoán, thiết kế, biện luận, làm được việc trong điều kiện ràng buộc. Khi 3 yếu tố này trở thành một con số thì với SV, việc "qua môn" trở thành nhu cầu hợp lý hơn là "hiểu để dùng được".

TS Cam Anh Tuấn cho rằng có thể xuất phát từ quan niệm xem nhẹ các kiến thức lý luận, ưu tiên kiến thức mang tính ứng dụng cao. Đây cũng một phần do định hướng của xã hội, gia đình, coi trọng tính thực tế trong việc học ở ĐH cao hơn tính lý luận. Theo TS Tuấn, điểm số phản ánh khả năng đáp ứng chuẩn đầu ra của học phần, do vậy nếu chuẩn đầu ra cao thì sẽ yêu cầu năng lực phân tích, sáng tạo, ứng dụng cao. Ngược lại, nếu xác định chuẩn đầu ra thấp thì sẽ thiên về hướng đánh giá khả năng ghi nhớ, học thuộc của SV.

Siết 'lạm phát điểm số': Vì sao điểm cao nhưng chưa chắc sinh viên học thật? - Ảnh 2.

Sinh viên vào lớp nhưng không chú tâm học hành là hiện tượng đáng lo ngại, dù không phải sinh viên nào cũng như vậy

ẢNH: YT TẠO BẰNG AI

Đánh giá làm việc nhóm che lấp năng lực cá nhân?

Theo TS Hoàng Ngọc Vinh, nếu SV thiếu tập trung nhưng vẫn đạt điểm cao thì các trường cần xem lại cả phương pháp giảng dạy lẫn cách kiểm tra, đánh giá. Cần đặt ra những câu hỏi như: Liệu đề thi có quá dễ, chủ yếu kiểm tra trí nhớ? Có tình trạng học tủ, học dồn vài ngày trước kỳ thi vẫn đạt điểm tốt? Giảng viên quá dễ dãi khi cho điểm?

Nếu bảng điểm đẹp mà kiến thức hổng, kỹ năng yếu, không giải quyết được công việc thì rõ ràng công tác đánh giá có vấn đề. "Thi thật không phải là ra đề thật khó, mà là đánh giá đúng những gì SV biết và làm được", TS Vinh nói.

PGS-TS Dũng cũng đặt vấn đề về cách hệ thống đánh giá, ghi nhận kết quả học tập. Nếu việc đánh giá chú trọng sự hiện diện, bài tập đã nộp hoặc sản phẩm cuối cùng hơn là tư duy và khả năng thực hiện công việc của từng SV, người học có thể hướng đến việc hoàn thành yêu cầu để lấy điểm thay vì thực sự làm chủ kiến thức.

Một khía cạnh được PGS-TS Dũng chỉ ra là việc đánh giá theo nhóm có khả năng che lấp năng lực cá nhân. Ông cho rằng tình trạng SV ít tập trung nhưng vẫn được điểm tốt phần nào chứng tỏ quá trình đánh giá chưa tách năng lực cá nhân khỏi sản phẩm tập thể. "Bài nhóm, thuyết trình nhóm là cần thiết nhưng nếu chỉ chấm sản phẩm cuối, SV chia việc rồi ghép sát thời hạn; người đóng góp ít vẫn nhận điểm cả nhóm. Nhóm 4 - 6 người, nhiệm vụ phụ thuộc lẫn nhau nên cần có minh chứng cá nhân, nhật ký kỹ thuật, vấn đáp riêng, rubric đồng đẳng có trọng số, bài kiểm tra trên chính sản phẩm nhóm thì mới khiến điểm nhóm không che lấp năng lực từng người", PGS-TS Dũng phân tích.

Theo các chuyên gia, điểm số cao không mặc nhiên đồng nghĩa với học đối phó, nhưng cũng không thể tự nó chứng minh người học đã làm chủ kiến thức. Muốn đánh giá đúng năng lực, các trường cần xem xét cả quá trình lẫn kết quả, cả sản phẩm chung lẫn đóng góp cá nhân. (còn tiếp)

AI khiến "học thật, thi thật" phức tạp hơn

Nếu bài tập nhóm đã khiến việc xác định đóng góp cá nhân trở nên khó khăn, vai trò của AI càng đặt ra thách thức trong quá trình đánh giá SV.

Giảng viên T. cho rằng sự phát triển của công cụ AI hiện nay là xu thế mạnh mẽ nhưng nếu người học để AI làm thay mọi thứ thì rất nguy hại cho sự phát triển năng lực người học.

Đồng quan điểm, nghiên cứu sinh Nguyễn Đăng Hiếu, Viện trưởng Viện Ứng dụng khoa học hành chính, nhận định sự bùng nổ của AI như một chất xúc tác cực mạnh, đẩy thách thức "học thật, thi thật" lên một mức độ phức tạp, tinh vi và khó kiểm soát hơn bao giờ hết.

Theo ông Hiếu, ranh giới giữa năng lực thực tế và sản phẩm do AI tạo lập đang bị xóa nhòa. "Một SV hoàn toàn có thể dùng các mô hình ngôn ngữ lớn để tạo ra một bài luận có logic chặt chẽ, trích dẫn bài bản chỉ trong vài phút. Có thể thấy ngay hệ quả điểm số lúc này phản ánh kỹ năng tương tác với AI của người học nhiều hơn là tri thức nội tại, tư duy phân tích hay năng lực chuyên môn thực thụ", ông Hiếu nói.

Ông Hiếu chỉ ra "căn bệnh trầm kha" là đề thi thường yêu cầu trình bày khái niệm, liệt kê vai trò, tổng hợp lý thuyết. Đây lại chính là vùng năng lực mà AI vượt trội con người về cả tốc độ lẫn dung lượng. Khi đề thi không kích hoạt được tư duy bậc cao (phân tích, đánh giá, sáng tạo), việc SV dùng AI để trả lời là phản xạ thích nghi tất yếu.

Theo PGS-TS Đỗ Văn Dũng, Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cảnh báo "ảo ảnh tinh thông giả": dùng AI có thể hoàn thành bài tốt hơn rõ rệt, nhưng khi không dùng công cụ thì kết quả giảm sút, vì vậy nộp được bài tập không đồng nghĩa đã nắm bài học.

Yêu cầu siết chặt kiểm soát kết quả học tập và xử lý lạm phát điểm số của Bộ Giáo dục và Đào tạo đang phơi bày nghịch lý lớn giữa điểm số và thực chất tiếp thu tại nhiều giảng đường đại học. Thực tế ghi nhận tại một trường đại học ở Đồng Nai cho thấy dù lớp có khoảng 40 sinh viên, chỉ một số ít tập trung ở các bàn đầu, trong khi phần còn lại làm việc riêng, lướt điện thoại hoặc ngủ gục. Hiện tượng đến lớp cốt để điểm danh thay vì chủ động tiếp nhận tri thức đang phản ánh lỗ hổng trong phương thức quản lý cũng như ý thức người học. Nhìn nhận về thực trạng này, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh cùng Phó giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Dũng đều cảnh báo hiện tượng có mặt nhưng không tham gia học tập là điều rất đáng lo ngại. Giảng viên T. tại Thành phố Hồ Chí Minh nhận định việc thiếu tập trung khiến chất lượng đào tạo không tương xứng với công sức bỏ ra. Song song đó, Tiến sĩ Cam Anh Tuấn từ Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội chỉ ra nhiều yếu tố dẫn đến tình trạng này, bao gồm việc chọn sai ngành, thiếu động lực và chưa thích ứng với phương pháp tự học. Đáng báo động hơn, tâm lý học chỉ cần qua môn đang chi phối suy nghĩ của không ít sinh viên, đặc biệt tại các học phần đại cương. Lối tư duy đối phó này biến thời gian đào tạo bậc đại học thành quá trình tích lũy tín chỉ đơn thuần thay vì rèn luyện năng lực thực thụ. Việc chấn chỉnh kiểm tra, đánh giá vì vậy trở thành đòi hỏi cấp thiết nhằm bảo đảm bằng cấp phản ánh chính xác trình độ chuyên môn của người học khi bước vào thị trường lao động.
amung