Chị Như từng ly hôn và có 1 con chung với chồng trước. Sau đó, chị kết hôn lần hai và đang mang thai đứa con thứ hai.
Sau khi ly hôn, đứa con thứ nhất của chị ở cùng chồng trước và có hộ khẩu ở đây, không cùng hộ khẩu với chị.
Chị Như hỏi: “Theo thông báo của công ty thì khi sinh con thứ hai, con thứ nhất phải chung hộ khẩu với mẹ thì mẹ mới được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản 7 tháng. Công ty thông báo như vậy có đúng không? Trường hợp của tôi muốn hưởng chế độ thai sản thì cần những hồ sơ gì?”.
Chế độ thai sản là khoản hỗ trợ quan trọng đối với lao động nữ (Ảnh minh họa: Tiến Tuấn).
Trả lời chị Như, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết điều kiện hưởng chế độ nghỉ thai sản khi sinh con thứ hai được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 168/2026/NĐ-CP.
Theo đó, lao động nữ sinh con thứ hai đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản 7 tháng nếu tại thời điểm sinh con có một con đẻ còn sống, không liên quan đến việc con đẻ của lao động nữ có chung hộ khẩu với họ hay không.
Về hồ sơ hưởng chế độ thai sản khi sinh con thứ hai, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết được thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 61 Luật Bảo hiểm xã hội.
HỒ SƠ ĐỀ NGHỊ HƯỞNG CHẾ ĐỘ THAI SẢN
(Nguồn: Khoản 1 Điều 61 Luật Bảo hiểm xã hội)
Hồ sơ đề nghị hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ sinh con, hoặc lao động nữ mang thai hộ sinh con, hoặc lao động nữ nhờ mang thai hộ là bản sao giấy khai sinh, hoặc trích lục khai sinh, hoặc bản sao giấy chứng sinh của con.
Người lao động phải cung cấp thêm giấy tờ khác trong các trường hợp sau đây:
- Giấy tờ chứng minh quá trình điều trị vô sinh của lao động nữ trong trường hợp đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản khi nghỉ việc để điều trị vô sinh.
- Bản sao giấy chứng tử, hoặc trích lục khai tử của lao động nữ sinh con, lao động nữ nhờ mang thai hộ trong trường hợp chết sau khi sinh con.
- Bản chính hoặc bản sao văn bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về tình trạng người mẹ sau khi sinh con mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con, hoặc lao động nữ nhờ mang thai hộ sau khi nhận con mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con.
- Bản chính hoặc bản sao giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về việc lao động nữ phải nghỉ việc để dưỡng thai.
- Bản sao bản thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và bản sao văn bản xác nhận thời điểm giao nhận con giữa bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ trong trường hợp lao động nữ mang thai hộ sinh con, hoặc lao động nữ nhờ mang thai hộ nhận con.
Ngoài ra, Khoản 4 Điều 2 Nghị định 168/2026 quy định người kê khai chịu trách nhiệm toàn diện trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của nội dung kê khai đề nghị hưởng chế độ thai sản khi sinh con thứ hai.
Do đó, nếu xác định trường hợp của mình đúng điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định 168/2026, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đề nghị chị Như thông báo đơn vị sử dụng lao động về việc sinh con thứ hai để đơn vị lập Danh sách đề nghị giải quyết hưởng chế độ thai sản cho chị (theo mẫu số 01B-HSB ban hành kèm theo Quyết định số 313/QĐ-BHXH của Bảo hiểm xã hội Việt Nam). Trong danh sách này, tại cột ghi chú, đơn vị ghi rõ nội dung “sinh con thứ hai”.