Không nên cộng điểm thưởng ngoại ngữ một cách đại trà
TS Hoàng Ngọc Vinh - nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp, Bộ GD&ĐT nêu quan điểm, không nên cộng điểm thưởng ngoại ngữ một cách đại trà. Ngoại ngữ cần được đánh giá theo yêu cầu của ngành học. Ngành cần ngoại ngữ có thể đưa môn này vào tổ hợp với trọng số phù hợp, hoặc sử dụng chứng chỉ theo quy tắc rõ ràng.
TS Hoàng Ngọc Vinh - nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp, Bộ GD&ĐT
Theo ông Vinh, nếu vẫn cộng điểm thưởng, có mấy bất cập. Thứ nhất, có thể làm lệch kết quả tuyển chọn. Thí sinh có điểm các môn nền tảng thấp hơn lại trúng tuyển nhờ điểm thưởng ngoại ngữ, dù ngoại ngữ chưa phải yêu cầu quyết định đối với ngành đó.
Thứ hai, có nguy cơ tính hai lần cùng một năng lực. Nếu chứng chỉ đã được quy đổi thành điểm môn ngoại ngữ mà còn được cộng thưởng thì lợi thế được nhân đôi.
Thứ ba, cộng điểm thưởng chứng chỉ IETLS sẽ làm tăng chênh lệch cơ hội. Điều kiện học ngoại ngữ, luyện thi và chi trả lệ phí chứng chỉ khác nhau giữa các gia đình, địa phương. Điểm thưởng có thể chuyển lợi thế về điều kiện học tập thành lợi thế tuyển sinh.
Thứ tư, khó xác định mức thưởng có căn cứ. Vì sao một mức IELTS được cộng một hay hai điểm? Số điểm ấy tương ứng thế nào với khả năng học tốt ngành dự tuyển? Nếu không có dữ liệu kiểm chứng, mức thưởng dễ mang tính chủ quan.
Và cuối cùng, theo ông Vinh, điểm cộng chứng chỉ IELTS sẽ khuyến khích học để lấy phần thưởng. Người học có thể dồn công sức vào chứng chỉ đem lại điểm cộng, trong khi xem nhẹ các môn nền tảng của ngành mình muốn học.
Bỏ quy định cộng điểm sẽ chuyển sang chất lượng thật
Thạc sĩ Phạm Thái Sơn, Giám đốc Tuyển sinh và Truyền thông Trường ĐH Công thương TP.HCM ủng hộ quy định là bỏ điểm cộng cho IELTS.
Khi các trường đại học không được dùng IELTS như một cách để thu hút thí sinh, việc cạnh tranh tuyển sinh chuyển sang chất lượng thật, chương trình đào tạo, học phí, học bổng, cơ sở vật chất, môi trường học tập, cơ hội việc làm, liên kết doanh nghiệp.
Và nhất là các trường phải làm tốt hơn khâu tư vấn hướng nghiệp. Khi không thể “chiêu dụ” bằng thêm điểm, trường phải chứng minh ngành học đó phù hợp với năng lực và mục tiêu nghề nghiệp của học sinh.
Theo ông Sơn, ngoại ngữ rất quan trọng trong cuộc đời của sinh viên. Thế hệ hiện nay mà không biết giao tiếp tiếng Anh, tiếng Trung Quốc.,. thì thua kém trong công việc của mình. Vậy nên các trường đại học miễn học anh văn cho các thí sinh có chứng chỉ IELTS khi đã là sinh viên.
“Việc bỏ chứng chỉ IELTS cũng làm cho khả năng xét tuyển được công bằng hơn cho các thí sinh ở vùng sâu vùng xa. Nếu làm tốt thì học sinh sẽ bớt chạy theo “điểm thưởng” và tập trung vào năng lực; các trường đại học cũng phải cạnh tranh bằng chất lượng đào tạo và đầu ra”, ông Sơn chia sẻ.
Ông Sơn cho rằng, quy chế tuyển sinh nên phải có trước khi học sinh cấp bắt đầu lớp 10, để các em học sinh và phụ huynh có thể chọn lựa các học và chuẩn bị kỹ trước khi thi tốt nghiệp THPT và xét tuyển vào đại học. Việc thay đổi gấp gáp sẽ ảnh hưởng lớn đến kế hoạch học tập của học sinh và các trường đại học.
“Tôi cho rằng Bộ nên công bố lộ trình trước tầm 3 năm thì tốt hơn”, ông Sơn nói.
Một phương thức xét tuyển: Hợp lý hay không?
Về phương thức tuyển sinh, TS Hoàng Ngọc Vinh cho rằng, quy định mỗi ngành tại một trường sử dụng một phương thức tuyển sinh có cơ sở hợp lý: thí sinh được xét theo quy tắc chung, dễ chuẩn bị; trường dễ tổ chức và giải trình. Một phương thức vẫn có thể kết hợp nhiều thành phần đánh giá phù hợp với ngành.
Tuy nhiên, ông Vinh lo ngại bất lợi có thể phát sinh nếu trường gom quá nhiều điều kiện vào phương thức kết hợp, hoặc bắt buộc chứng ch. Khi đó, chỉ giảm số phương thức mà chưa giảm phức tạp hay tăng công bằng.
Bên cạnh đó với mỗi ngành học nên quy định một tổ hợp môn vì ngành học đòi hỏi nền tảng kiến thức THPT nhất định, xuất phát từ yêu cầu của chương trình đào tạo. Việc chọn môn xét tuyển phải dựa trên quan hệ ấy.
“Nếu dùng nhiều tổ hợp, trường phải chứng minh từng tổ hợp đều đáp ứng nền tảng cần thiết và có căn cứ so sánh kết quả. Chưa chứng minh được thì chưa đủ cơ sở mở rộng tổ hợp; cùng thang 30 không có nghĩa tương đương về năng lực”, ông Vinh nói.
Đối với quy định chỉ được sử dụng một phương thức xét tuyển, Thạc sĩ Phạm Thái Sơn cho rằng, cần xem xét lại, bởi quy định này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tuyển sinh của các trường đại học, đặc biệt là các trường ở địa phương và những trường có mức điểm đầu vào tương đối thấp.
Theo ông Sơn, trong bối cảnh số lượng học sinh ngày càng giảm, trong khi chỉ tiêu tuyển sinh của các trường đại học có xu hướng tăng, các trường đại học ở địa phương sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tuyển đủ sinh viên.
Vì vậy, nên có phương án linh hoạt, chẳng hạn cho phép các trường sử dụng khoảng 3 phương thức xét tuyển như năm nay, để có thêm dư địa trong công tác tuyển sinh.
Đối với các trường đại học top đầu, việc lựa chọn phương thức xét tuyển có thể căn cứ vào nhu cầu và đặc thù riêng của từng trường
Trường có thể sử dụng một hoặc hai phương thức nếu thấy phù hợp, thay vì áp dụng một quy định cứng cho tất cả. Quan trọng là trao quyền để các trường chủ động xác định phương thức xét tuyển phù hợp với điều kiện và mục tiêu tuyển sinh của mình.