1 Giữa tháng Mười này, tôi có dịp gặp lại và trò chuyện với nhà sưu tập Vũ Đình Hải khi anh vừa về từ Mỹ. Anh bộc bạch: “Sưu tập tranh đối với tôi là một hành trình dài đầy thử thách. Tôi cho rằng, bản thân người sưu tập phải kiên nhẫn đi tìm từng tác phẩm, bền bỉ vượt qua những khó khăn về thời gian, khoảng cách và cả điều kiện vật chất. Mỗi bức tranh được gìn giữ, tôi nghĩ nó có thể mang lại giá trị nghệ thuật, kết tinh của sự nhẫn nại và tình yêu dành cho văn hóa. Chính sự kiên trì ấy tôi đã biến công việc tưởng chừng đơn giản nhưng trở thành thành một sứ mệnh bảo tồn ký ức, lưu giữ hồn cốt dân tộc và trao truyền cho thế hệ mai sau”.
Ý tưởng khởi nguồn từ chợ trời Sài Gòn năm 1982, khi đất nước còn trong thời bao cấp, TP Hồ Chí Minh còn nhiều khó khăn. Mỗi lần đi chợ trời, ông tình cờ bắt gặp những bức tranh cũ bị bán lẫn trong đống đồ phế liệu. Hình ảnh ấy khiến ông chợt nhớ đến những trang sách từng đọc: Thời Đệ nhị Thế chiến, quân Đức quốc xã đi đến đâu là cướp bóc tài sản quý giá đến đó, trong đó có vô số tác phẩm nghệ thuật từ những bảo tàng lớn. Từ đó, ông nảy ra ý tưởng “Tại sao mình không thử lưu giữ những bức tranh xưa - vốn là ký ức, là văn hóa của đất nước - trước khi chúng bị thất lạc hoặc mai một?”!
Ban đầu, ông nhờ bạn bè tìm giúp trong các đống đồ cũ, rồi dần dần tự mình săn lùng. Lần lượt ông sở hữu được 300 bức tranh, phần lớn là tác phẩm của những danh họa miền nam, như Văn Đen với “Đánh cờ” (1960), Vũ Huỳnh với “Trừu tượng” (1970), Văn Phụng với “Bến thuyền” (1960), Nguyễn Hữu Thịnh với “Phong cảnh” (1970), Nguyễn Hê với “Ngựa trên thảo nguyên” (1949), Bé Ký với “Bến xe thổ mộ” (1960), Hồ Thành Đức với “Vợ chồng” (1970), Hà Cẩm Tâm với “Ngựa hoang” (1960), Lê Chánh với “Chân dung thiếu nữ” (1940)…
Đến năm 1990, ông tạm dừng việc sưu tầm, bởi lúc này, đất nước bắt đầu mở cửa, các nhà sưu tập tranh ngoại quốc từ Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và Hồng Kông (Trung Quốc)… đổ xô vào Việt Nam. Giá tranh tăng vọt gấp hàng trăm lần, đồng thời xuất hiện tranh giả. Thị trường tranh Việt Nam chứng kiến những mức giá kỷ lục: Tranh của Nguyễn Gia Trí, Tạ Tỵ, Đỗ Quang Em, Hồ Hữu Thủ… có bức lên đến hàng trăm ngàn đô-la, thậm chí tranh của Nguyễn Gia Trí có lúc vượt ngưỡng triệu đô. Trong cơn lốc ấy, ông chọn dừng lại, giữ gìn những gì đã có thay vì lao vào cuộc cạnh tranh khốc liệt.
2 Sau khi định cư tại Mỹ, ông tiếp tục sưu tầm thêm khoảng 70 bức tranh, phần nhiều mua lại từ du khách hoặc lính Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam. Họ mua tranh về làm kỷ niệm, rồi già yếu hoặc qua đời, gia đình họ đem bán lại trên hè phố. Tác giả những bức này phần nhiều là của sinh viên Trường cao đẳng Mỹ thuật Gia Định - những người sau này trở thành danh họa, trong đó có Bé Ký.
Rồi Vũ Đình Hải trở về Việt Nam, tổ chức triển lãm với chủ đề “Mỹ thuật miền Nam trước năm 1975”. Ông công bố 60 bức trong bộ sưu tập 300 họa phẩm của mình. Triển lãm ấy như một nhịp cầu nối giữa người con xa xứ với quê hương. Người thưởng lãm được chiêm ngưỡng cái đẹp, được sống lại ký ức của một thời.
Nhìn lại quá trình sưu tập của Vũ Đình Hải, ta thấy rõ một thông điệp “nghệ thuật là ký ức, bản sắc và tiếng nói của linh hồn dân tộc”. Khi nhà sưu tập Vũ Đình Hải chia sẻ câu chuyện của mình, nhiều người xúc động. Họ thấy ở anh là người gìn giữ ký ức dân tộc. Họa sĩ Vân Y nói rằng, “nếu không có những người như ông Hải, có lẽ chúng ta đã mất đi một phần hồn của miền Nam xưa”. Nhiều người trẻ sau buổi triển lãm đã viết trên mạng xã hội rằng, họ cảm thấy như được kết nối với quá khứ, được hiểu thêm về những giá trị văn hóa mà cha ông để lại.
Bộ sưu tập của Vũ Đình Hải là nhịp cầu nối giữa tương lai và hiện tại. Nghệ thuật, trong bản chất sâu xa nhất, chính là ký ức và bản sắc của dân tộc. Mỗi bức tranh là một tiếng nói của linh hồn, một thông điệp gửi đến thế hệ mai sau: Hãy trân trọng, gìn giữ và tiếp nối như nhà sưu tập Vũ Đình Hải.
GIẢN THANH SƠN