Bỏ qua điều hướng
•

Sưu tập tranh để nâng niu ký ức

Sưu tập tranh để nâng niu ký ức
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Chọn sự bền bỉ, tình yêu quê hương và niềm trân trọng văn hóa dân tộc làm sức mạnh, nhà sưu tập Vũ Đình Hải, một Việt kiều sinh sống tại Hoa Kỳ biến nỗi nhớ đất mẹ thành việc sưu tầm, gìn giữ và lan tỏa các tác phẩm hội họa từng làm nên diện mạo nghệ thuật miền nam trước năm 1975.

1 Giữa tháng Mười này, tôi có dịp gặp lại và trò chuyện với nhà sưu tập Vũ Đình Hải khi anh vừa về từ Mỹ. Anh bộc bạch: “Sưu tập tranh đối với tôi là một hành trình dài đầy thử thách. Tôi cho rằng, bản thân người sưu tập phải kiên nhẫn đi tìm từng tác phẩm, bền bỉ vượt qua những khó khăn về thời gian, khoảng cách và cả điều kiện vật chất. Mỗi bức tranh được gìn giữ, tôi nghĩ nó có thể mang lại giá trị nghệ thuật, kết tinh của sự nhẫn nại và tình yêu dành cho văn hóa. Chính sự kiên trì ấy tôi đã biến công việc tưởng chừng đơn giản nhưng trở thành thành một sứ mệnh bảo tồn ký ức, lưu giữ hồn cốt dân tộc và trao truyền cho thế hệ mai sau”.

Ý tưởng khởi nguồn từ chợ trời Sài Gòn năm 1982, khi đất nước còn trong thời bao cấp, TP Hồ Chí Minh còn nhiều khó khăn. Mỗi lần đi chợ trời, ông tình cờ bắt gặp những bức tranh cũ bị bán lẫn trong đống đồ phế liệu. Hình ảnh ấy khiến ông chợt nhớ đến những trang sách từng đọc: Thời Đệ nhị Thế chiến, quân Đức quốc xã đi đến đâu là cướp bóc tài sản quý giá đến đó, trong đó có vô số tác phẩm nghệ thuật từ những bảo tàng lớn. Từ đó, ông nảy ra ý tưởng “Tại sao mình không thử lưu giữ những bức tranh xưa - vốn là ký ức, là văn hóa của đất nước - trước khi chúng bị thất lạc hoặc mai một?”!

142.jpg
Trừu tượng 1960. Họa sĩ Nguyễn Trí Minh (1924-2010).
143.jpg
Đánh Cờ, sơn dầu 1960. Họa sĩ Văn Đen (1911-1988)

Ban đầu, ông nhờ bạn bè tìm giúp trong các đống đồ cũ, rồi dần dần tự mình săn lùng. Lần lượt ông sở hữu được 300 bức tranh, phần lớn là tác phẩm của những danh họa miền nam, như Văn Đen với “Đánh cờ” (1960), Vũ Huỳnh với “Trừu tượng” (1970), Văn Phụng với “Bến thuyền” (1960), Nguyễn Hữu Thịnh với “Phong cảnh” (1970), Nguyễn Hê với “Ngựa trên thảo nguyên” (1949), Bé Ký với “Bến xe thổ mộ” (1960), Hồ Thành Đức với “Vợ chồng” (1970), Hà Cẩm Tâm với “Ngựa hoang” (1960), Lê Chánh với “Chân dung thiếu nữ” (1940)…

Đến năm 1990, ông tạm dừng việc sưu tầm, bởi lúc này, đất nước bắt đầu mở cửa, các nhà sưu tập tranh ngoại quốc từ Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và Hồng Kông (Trung Quốc)… đổ xô vào Việt Nam. Giá tranh tăng vọt gấp hàng trăm lần, đồng thời xuất hiện tranh giả. Thị trường tranh Việt Nam chứng kiến những mức giá kỷ lục: Tranh của Nguyễn Gia Trí, Tạ Tỵ, Đỗ Quang Em, Hồ Hữu Thủ… có bức lên đến hàng trăm ngàn đô-la, thậm chí tranh của Nguyễn Gia Trí có lúc vượt ngưỡng triệu đô. Trong cơn lốc ấy, ông chọn dừng lại, giữ gìn những gì đã có thay vì lao vào cuộc cạnh tranh khốc liệt.

144.jpg
Trừu tượng, sơn mài 1960. Họa sĩ Nguyễn Gia Trí (1908-1993)

2 Sau khi định cư tại Mỹ, ông tiếp tục sưu tầm thêm khoảng 70 bức tranh, phần nhiều mua lại từ du khách hoặc lính Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam. Họ mua tranh về làm kỷ niệm, rồi già yếu hoặc qua đời, gia đình họ đem bán lại trên hè phố. Tác giả những bức này phần nhiều là của sinh viên Trường cao đẳng Mỹ thuật Gia Định - những người sau này trở thành danh họa, trong đó có Bé Ký.

Rồi Vũ Đình Hải trở về Việt Nam, tổ chức triển lãm với chủ đề “Mỹ thuật miền Nam trước năm 1975”. Ông công bố 60 bức trong bộ sưu tập 300 họa phẩm của mình. Triển lãm ấy như một nhịp cầu nối giữa người con xa xứ với quê hương. Người thưởng lãm được chiêm ngưỡng cái đẹp, được sống lại ký ức của một thời.

145.jpg
Chân dung thiếu nữ, sơn dầu (1940). Họa sĩ Lê Chánh

Nhìn lại quá trình sưu tập của Vũ Đình Hải, ta thấy rõ một thông điệp “nghệ thuật là ký ức, bản sắc và tiếng nói của linh hồn dân tộc”. Khi nhà sưu tập Vũ Đình Hải chia sẻ câu chuyện của mình, nhiều người xúc động. Họ thấy ở anh là người gìn giữ ký ức dân tộc. Họa sĩ Vân Y nói rằng, “nếu không có những người như ông Hải, có lẽ chúng ta đã mất đi một phần hồn của miền Nam xưa”. Nhiều người trẻ sau buổi triển lãm đã viết trên mạng xã hội rằng, họ cảm thấy như được kết nối với quá khứ, được hiểu thêm về những giá trị văn hóa mà cha ông để lại.

Bộ sưu tập của Vũ Đình Hải là nhịp cầu nối giữa tương lai và hiện tại. Nghệ thuật, trong bản chất sâu xa nhất, chính là ký ức và bản sắc của dân tộc. Mỗi bức tranh là một tiếng nói của linh hồn, một thông điệp gửi đến thế hệ mai sau: Hãy trân trọng, gìn giữ và tiếp nối như nhà sưu tập Vũ Đình Hải.

GIẢN THANH SƠN

Hành trình gìn giữ di sản mỹ thuật miền Nam trước năm 1975 của nhà sưu tập Vũ Đình Hải bắt đầu từ năm 1982, xuất phát từ nỗi trăn trở khi thấy nhiều tác phẩm hội họa xưa nằm lẫn trong các đống phế liệu tại chợ trời Sài Gòn. Ý thức sâu sắc về nguy cơ mai một ký ức văn hóa đất nước, ông đã bền bỉ tìm kiếm và tích lũy được 300 bức tranh quý của nhiều tên tuổi như Văn Đen, Bé Ký, Lê Chánh hay Hồ Thành Đức. Đến năm 1990, trước làn sóng giới sưu tập ngoại quốc đổ xô tìm mua khiến thị trường tranh Việt tăng giá chóng mặt và nảy sinh vấn nạn tranh giả, ông chủ động dừng lại nhằm bảo toàn vẹn nguyên những giá trị đã gìn giữ. Khi sang định cư tại Mỹ, nhà sưu tập Vũ Đình Hải tiếp tục bổ sung vào bộ sưu tập cá nhân khoảng 70 tác phẩm, phần lớn được mua lại từ các cựu binh hoặc du khách Mỹ từng sang Việt Nam. Nguồn tranh này chủ yếu ghi dấu sáng tác thời kỳ đầu của các cựu sinh viên Trường cao đẳng Mỹ thuật Gia Định, những người về sau đều khẳng định vị thế vững chắc trong nền mỹ thuật dân tộc. Việc gom nhặt những mảnh ghép lưu lạc trên đất khách thể hiện rõ tinh thần kiên trì biến tình cảm với quê hương thành hành động bảo tồn văn hóa cụ thể. Trở về nước tổ chức triển lãm với chủ đề "Mỹ thuật miền Nam trước năm 1975", ông chính thức giới thiệu 60 tác phẩm tiêu biểu đến công chúng yêu nghệ thuật. Hoạt động trưng bày này không chỉ khẳng định giá trị bền vững của dòng tranh miền Nam giai đoạn trước mà còn mở ra cơ hội tiếp cận di sản quý báu cho thế hệ mai sau. Nỗ lực cá nhân bền bỉ qua nhiều thập kỷ của ông vì thế đã vượt qua thú vui thưởng ngoạn đơn thuần để trở thành một sứ mệnh gìn giữ ký ức lịch sử trọn vẹn.
amung