Bỏ qua điều hướng

Tân cổ giao duyên làm chấn động giới cải lương

Tân cổ giao duyên làm chấn động giới cải lương
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Công lao lớn nhất của NSND Viễn Châu chính là sáng tạo thể loại tân cổ giao duyên, mở ra con đường mới cho vọng cổ. Từ đây, vọng cổ bước sang một vị thế khác, vừa giữ được cốt cách truyền thống vừa có khả năng đối thoại với âm nhạc đương thời.

Sức sống mới của vọng cổ cải lương

Giữa thập niên 1950, cải lương phát triển cực thịnh, các hãng đĩa cũng ra đời rất nhiều, cạnh tranh nhau thu âm và phát hành. Trong bối cảnh ấy, các ông bà bầu và nghệ sĩ khao khát tìm hướng đi mới để thu hút khán giả và tạo dấu ấn riêng. Viễn Châu cũng không ngoại lệ. Và ông đã thành công, gần như "một mình một cõi", với thể loại tân cổ giao duyên.

Viễn Châu biết đàn cả guitar tân nhạc nên một hôm ông chợt lóe lên cảm xúc với những giai điệu rất gần gũi. Tân nhạc VN có rất nhiều bài vẫn đặt trên nền móng ngũ cung của cổ nhạc, đặc biệt là với tân nhạc miền Nam và bolero thì điều này thấy rất rõ. Chính vì vậy, Viễn Châu mạnh dạn thử phối hợp 2 thể loại tân - cổ nhạc với nhau qua tác phẩm Chàng là ai? (tân nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết). Hãng đĩa Hồng Hoa đã chọn nghệ sĩ Lệ Thủy bước vào phòng thu.

Lệ Thủy kể lại: "Lúc đó tôi nói: "Trời, bài vầy sao mà ca được hả bác Bảy?" Ông trả lời: "Con cứ ca đi, không sao đâu". Thì tôi đành nghe lời bác thôi chứ hoang mang lắm". Cần nói thêm rằng Viễn Châu đã bỏ bớt câu 3 và 4 của vọng cổ để thay bằng một đoạn tân nhạc, vừa làm bài vọng cổ gọn gàng hơn, vừa khiến nó sinh động hơn vì thay đổi giai điệu, tiết tấu.

Tân cổ giao duyên làm chấn động giới cải lương- Ảnh 1.

NSND Lệ Thủy là người hát bài tân cổ giao duyên đầu tiên của Viễn Châu

ẢNH: H.K

Tân cổ giao duyên làm chấn động giới cải lương- Ảnh 2.

NSƯT Thanh Kim Huệ với bài tân cổ Tiếng chày trên sóc Bom Bo cực kỳ dễ thương

ẢNH: H.K

Chàng là ai? xuất hiện đã gây nên một cơn "chấn động" nghệ thuật khiến Viễn Châu choáng váng. Choáng váng vì bị… "ném đá", nói theo ngôn ngữ bây giờ. Hàng loạt nghệ sĩ, nhạc sĩ, kể cả báo chí lúc ấy công kích Viễn Châu không kiêng nể, bảo ông "phá" bài vọng cổ, "làm hư truyền thống", "lai căng"…

Những trải nghiệm từ nhỏ, qua cuộc kháng chiến và những năm tháng tù đày cùng sự lão luyện trong âm nhạc giúp Viễn Châu không nao núng. Ông lặng lẽ chờ đợi, không cần phản bác, không cần tranh biện.

Và rồi chính khán giả đã đưa ra câu trả lời. Không lâu sau, tân cổ giao duyên được thẩm thấu, đón nhận tưng bừng, trở thành làn sóng mới cuốn phăng những hoài nghi ban đầu.

Từ đó, Viễn Châu được các hãng đĩa đặt hàng liên tục để cho ra hàng ngàn bài tân cổ giao duyên. Nhưng theo ông: "Không phải bài tân nhạc nào cũng biến thành tân cổ giao duyên được. Tôi chỉ chọn những bài gần với âm hưởng ngũ cung thôi, chứ nhạc kích động kiểu Hùng Cường, Mai Lệ Huyền thì không phù hợp".

Hàng loạt tác phẩm sau đó được khán giả nhớ mãi, như: Hòn vọng phu, Thương về miền Trung, Cô gái bán sầu riêng, Ai lên xứ hoa đào, Quán nửa khuya, Nỗi buồn gác trọ, Bà mẹ quê, Hoa nở về đêm, Đêm tàn bến ngự…

Có một điểm thú vị là sau năm 1975, Viễn Châu viết tân cổ từ những bài nhạc cách mạng nghe vẫn rất êm tai như Anh ở đầu sông, em cuối sông, Áo mới Cà Mau, Tiếng chày trên sóc Bom Bo… Ông từng nói: "Nhạc sau 1975 có rất nhiều bài ca ngợi quê hương, cũng là chất liệu hay cho người sáng tác. Và sau 1975 nhiều nghệ sĩ cần bài hát mới để biểu diễn thì giới cầm bút như tôi cũng nên cung cấp kịp thời để vọng cổ cải lương có sức sống mới".

Những năm đầu sau thống nhất, đời sống nghệ thuật sôi động với hàng loạt tuồng cải lương mới ra đời. Vọng cổ cũng không đứng ngoài dòng chảy ấy. Nhiều soạn giả liên tục viết vọng cổ để phát trên radio, trong đó không thể thiếu Viễn Châu. Khán thính giả giờ vẫn nhớ giọng ca Thanh Kim Huệ với Tiếng chày trên sóc Bom Bo, trong veo hồn nhiên như một cô sơn nữ, hút cả trái tim người ta, cảm xúc đó thật sự khó tả.

Sức sáng tạo của Viễn Châu không dừng lại ở việc đưa tân nhạc vào vọng cổ. Ông còn làm một điều tưởng như trái ngược với bản chất của thể loại này: biến vọng cổ thành tiếng cười.

Vọng cổ hài tạo tên tuổi cho Văn Hường

Trường hợp nghệ sĩ Văn Hường là biệt lệ thú vị. Viễn Châu ngoài việc sáng tạo thể loại tân cổ giao duyên còn sáng tạo vọng cổ hài. Bản chất của vọng cổ là buồn, thấm thía, đầy thương cảm, ấy vậy mà Viễn Châu lại lật ngược hoàn toàn để biến từ bi sang hài. Và ông đã tìm ra người để ca đúng thể loại đó.

Văn Hường lúc ấy chừng 16 - 17 tuổi, chỉ là chàng trai bán hạt dưa trước rạp, chưa có ngoại hình gây chú ý nhưng giọng ca có vẻ "hề" của anh lại vô tình lọt vào tai Viễn Châu. Thế là ông thử viết bài vọng cổ hài cho Văn Hường ca. Thành công đến bất ngờ! Từ đó một loạt album liên tiếp ra đời, vừa thu đĩa, vừa ca salon, đẩy Văn Hường lên hàng siêu sao, cát sê tương đương đào kép chánh, sắm xe hơi, mua nhà lập tức. Văn Hường từng nói: "Tôi biết ơn bác Bảy vô cùng. Tôi không bao giờ tưởng tượng được tôi trở thành nghệ sĩ".

Những bài nổi tiếng là Tư Ếch đi Sài Gòn, Tứ đổ tường, Tai nạn honda, Vợ tôi nói tiếng Tây, Pháp sư giải nghệ, Năm con vợ, Văn Hường đi xe gắn máy, Tư Ếch đại chiến Văn Hường… Viễn Châu dùng hài để châm biếm thói hư tật xấu, sự hợm hĩnh, sính ngoại, mất gốc, mê tín, sân si… trong cuộc sống. Nghe mà thấm, nhưng không thể giận mà chỉ cười xòa. Viễn Châu thật sự có tính dí dỏm, lạc quan, chứ không chỉ biết xoay quanh nỗi buồn. (còn tiếp) 

Giữa thập niên 1950, khi cải lương phát triển cực thịnh và các hãng đĩa cạnh tranh quyết liệt, nhu cầu tìm kiếm một hình thức biểu đạt mới trở thành động lực đổi mới của sân khấu Nam Bộ. Từ sự am hiểu cổ nhạc và khả năng chơi guitar tân nhạc, NSND Viễn Châu nhận ra nhiều ca khúc Việt Nam, đặc biệt là nhạc miền Nam và bolero, vẫn dựa trên nền tảng ngũ cung. Phát hiện ấy giúp ông thực hiện cuộc kết hợp táo bạo giữa tân nhạc và vọng cổ, đặt nền móng cho thể loại tân cổ giao duyên. Thử nghiệm đầu tiên là Chàng là ai?, sử dụng phần tân nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết và được hãng đĩa Hồng Hoa giao cho nghệ sĩ Lệ Thủy thu âm. Viễn Châu bỏ câu 3 và câu 4 của bài vọng cổ, thay bằng một đoạn tân nhạc để tác phẩm gọn hơn, đồng thời tạo biến chuyển về giai điệu và tiết tấu. Chính cấu trúc này đã mở rộng khả năng biểu đạt của vọng cổ mà không làm mất đi phần cốt lõi truyền thống. Chàng là ai? lập tức gây chấn động, nhưng phản ứng ban đầu chủ yếu là sự công kích từ giới nghệ sĩ, nhạc sĩ và báo chí, với những cáo buộc như “phá” vọng cổ, “làm hư truyền thống” hoặc “lai căng”. Viễn Châu không tranh biện mà kiên nhẫn chờ sự thẩm định của công chúng, và khán giả sau đó đã đón nhận tân cổ giao duyên như một làn sóng nghệ thuật mới. Thành công ấy khiến các hãng đĩa liên tục đặt hàng, đưa ông đến với hàng ngàn tác phẩm thuộc thể loại này. Viễn Châu vẫn giữ nguyên tắc chỉ lựa chọn những ca khúc gần âm hưởng ngũ cung, thay vì ghép vọng cổ một cách cơ học với mọi loại tân nhạc. Hòn vọng phu, Thương về miền Trung, Quán nửa khuya, Nỗi buồn gác trọ hay Hoa nở về đêm cho thấy sức sống lâu bền của lựa chọn thẩm mỹ ấy. Sau năm 1975, việc chuyển soạn Anh ở đầu sông, em cuối sông, Áo mới Cà Mau và Tiếng chày trên sóc Bom Bo tiếp tục chứng minh tân cổ giao duyên có thể thích ứng với chất liệu mới, giúp vọng cổ đối thoại với đời sống âm nhạc đương thời.