Việc ngành thuế công khai danh sách hàng trăm nghìn mã số thuế ngừng hoạt động hoặc không còn hiện diện tại địa chỉ đăng ký nhằm xử lý nợ đọng và hướng tới mục tiêu cốt lõi là phản ánh đúng thực trạng “sức khỏe” doanh nghiệp, tạo dựng môi trường kinh doanh minh bạch.
Minh bạch dữ liệu và quy mô xử lý chưa từng có
Tính đến ngày 31/8, Thuế Thành phố Hồ Chí Minh cùng 29 cơ sở thuế trực thuộc đã công khai danh sách 684.570 trường hợp hộ kinh doanh, tổ chức và doanh nghiệp có mã số thuế ở trạng thái 03 và trạng thái 06. Trong đó, trạng thái 03 ghi nhận người nộp thuế đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế; trạng thái 06 ghi nhận người nộp thuế không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký theo thông báo của cơ quan quản lý. Thống kê chi tiết cho thấy, Văn phòng Thuế Thành phố Hồ Chí Minh công bố 19.198 trường hợp người nộp thuế, gồm 9.248 trường hợp ở trạng thái 03 và 9.950 trường hợp ở trạng thái 06. Tổng số 665.372 trường hợp còn lại do 29 thuế cơ sở trực tiếp công bố. Xét trên toàn bộ danh sách, các trường hợp thuộc trạng thái 06 chiếm tỷ lệ chủ đạo với 63,1%.
Số liệu ghi nhận tại các cơ sở thuế có sự chênh lệch lớn, phản ánh đúng mật độ kinh tế của từng địa phương. Thuế cơ sở 2, đơn vị quản lý địa bàn thành phố Thủ Đức trước đây, có số lượng lớn nhất với hơn 71.000 trường hợp. Thuế cơ sở 16, quản lý địa bàn quận Tân Bình trước đây, ghi nhận gần 59.000 trường hợp. Một số khu vực khác như Thuế cơ sở 7 ở quận 7, Thuế cơ sở 17 ở quận Tân Phú và Thuế cơ sở 12 ở quận 12 trước đây đều có hơn 43.000 trường hợp. Ngược lại, Thuế cơ sở 20 ở địa bàn huyện Cần Giờ trước đây chỉ ghi nhận 1.029 trường hợp.
Sự tồn tại của các mã số thuế chưa chấm dứt hiệu lực kéo theo nhiều bất cập. Dữ liệu trên hệ thống không phản ánh chính xác thực tế kinh doanh, gây ra tình trạng tồn đọng hồ sơ giải thể, làm gia tăng chi phí quản lý và tạo ra khoảng trống trong việc theo dõi nghĩa vụ thuế. Theo đánh giá từ Bộ Tài chính, trên phạm vi toàn quốc hiện có khoảng 617.000 mã số thuế doanh nghiệp và hộ kinh doanh không còn hoạt động hoặc chưa cập nhật đủ thông tin. Trong đó, có khoảng 292.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục và gần 325.500 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký đang có nợ thuế.
Bên cạnh việc sai lệch dữ liệu, tình trạng nợ thuế từ nhóm đối tượng này rất đáng chú ý. Trước đó, vào giữa tháng 8, Văn phòng Thuế Thành phố Hồ Chí Minh đã công khai 7.195 người nộp thuế thuộc trạng thái 03 và 06 còn nợ tiền thuế hơn 5.763 tỷ đồng. Nhiều đơn vị ghi nhận khoản nợ thuế kéo dài lên tới hàng trăm tỷ đồng. Đơn cử như Công ty cổ phần Xây dựng công nghiệp nợ hơn 371 tỷ đồng, Công ty cổ phần Vận tải đường sắt Sài Gòn nợ hơn 314 tỷ đồng, Công ty cổ phần Vận tải biển và bất động sản Việt Hải nợ hơn 271 tỷ đồng, Công ty cổ phần Thương mại tư vấn đầu tư xây dựng Bách Khoa Việt nợ hơn 254 tỷ đồng và Công ty TNHH The Forest City nợ hơn 210 tỷ đồng...
Giải pháp đồng bộ đưa dữ liệu về thực chất
Nhằm triển khai hiệu quả chiến dịch làm sạch mã số thuế-tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh của ngành thuế, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành văn bản chỉ đạo các sở, ngành phối hợp chặt chẽ với cơ quan thuế. Theo đó, các giải pháp tập trung rà soát, chuẩn hóa thông tin đăng ký doanh nghiệp, đăng ký thuế và định danh cá nhân của người đại diện pháp luật. Với doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký, nợ thuế kéo dài và không hợp tác, cơ quan thuế sẽ đề nghị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, mua bán hóa đơn hoặc lợi dụng pháp nhân, cơ quan thuế sẽ kiểm tra hoặc chuyển hồ sơ sang cơ quan công an xử lý. Sở Tài chính thành phố làm đầu mối tổng hợp, báo cáo kết quả cho Bộ Tài chính và Ủy ban nhân dân thành phố.
Một định hướng quan trọng của chiến dịch là việc làm sạch không đồng nghĩa với xóa bỏ ồ ạt mã số thuế bằng mọi giá. Mục tiêu then chốt là đưa dữ liệu về đúng bản chất thực tế. Trong 8 tháng năm 2026, ngành thuế toàn quốc đã hoàn tất chấm dứt hiệu lực mã số thuế cho 94.991 doanh nghiệp, tổ chức. Đáng chú ý, bên cạnh 23.017 trường hợp chủ động đề nghị trong năm, có tới 71.974 trường hợp tồn đọng từ năm 2025 trở về trước được giải quyết dứt điểm. Ngược lại, cơ quan thuế cũng hỗ trợ rà soát, khôi phục mã số thuế cho 3.554 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Tính đến thời điểm hiện tại, tỷ lệ xử lý chiến dịch của Thành phố Hồ Chí Minh đạt 19,6%, thấp hơn mức trung bình 36% của toàn ngành. Mặc dù tỷ lệ chưa cao do quy mô mẫu số dữ liệu quá lớn, nhưng xét về số lượng tuyệt đối, Thành phố Hồ Chí Minh lại là địa phương xử lý được khối lượng công việc lớn nhất cả nước. Trong quá trình triển khai, cơ quan thuế cũng ghi nhận nhiều vướng mắc thực tế từ phía người nộp thuế. Nhiều doanh nghiệp thuộc trạng thái 03, 06 khi tiến hành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế đã gặp khó khăn do không còn sử dụng chữ ký số, không đủ điều kiện giao dịch điện tử hoặc hệ thống không còn hỗ trợ các mẫu biểu cũ.
Nhằm tháo gỡ gánh nặng này, ngành thuế đã ban hành hướng dẫn cho phép người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế trực tiếp tại bộ phận một cửa. Doanh nghiệp không bắt buộc phải nộp hồ sơ khai thuế cho các kỳ phát sinh từ thời điểm nộp hồ sơ chấm dứt mã số thuế cho đến hiện tại, ngoại trừ hồ sơ quyết toán đến thời điểm đóng mã và các nghĩa vụ thuế mới phát sinh. Bên cạnh đó, Thuế Thành phố Hồ Chí Minh cũng tổng hợp các phản ánh từ cộng đồng doanh nghiệp và các hiệp hội để nghiên cứu, trình Bộ Tài chính, Chính phủ và Quốc hội xem xét xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tháo gỡ dứt điểm các vướng mắc về mặt cơ chế.
Việc công khai danh sách 684.570 trường hợp hộ kinh doanh, tổ chức và doanh nghiệp thông qua đăng tải trên trang thông tin điện tử, niêm yết tại trụ sở và gửi về Ủy ban nhân dân xã, phường chỉ là bước khởi đầu. Quá trình tiếp theo đòi hỏi công tác xác minh chi tiết để xác định chính xác số lượng mã số thuế cần chấm dứt, số doanh nghiệp được hỗ trợ khôi phục và số tiền thuế nợ có khả năng thu hồi. Khi dữ liệu được làm sạch hoàn toàn, ngành thuế sẽ sở hữu một bản đồ người nộp thuế sát với thực tế, làm nền tảng vững chắc để chuyển từ phương thức quản lý theo hồ sơ giấy sang quản lý hiện đại dựa trên dữ liệu số và đánh giá mức độ rủi ro.
ANH TUẤN