Trình bày tờ trình tại phiên họp, Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết, việc xây dựng Luật là cần thiết nhằm hoàn thiện thể chế quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển, bảo vệ môi trường biển và hải đảo.
Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý để quản trị biển hiện đại, phát huy hiệu quả nguồn lực từ biển, thúc đẩy phát triển kinh tế biển xanh, bền vững; bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn phát triển mới.
Dự thảo Luật gồm 6 chương, 76 điều quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển; bảo vệ môi trường biển và hải đảo; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Dự thảo Luật xác lập rõ ràng các quyền chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển cùng tài sản gắn liền; quy định về chuyển mục đích sử dụng, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ; đưa ra tiêu chí miễn, giảm tiền sử dụng khu vực biển; ưu tiên tiếp cận hạ tầng, dữ liệu số, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) và tài chính biển xanh.
Dự thảo cũng chú trọng công tác phòng ngừa, quản lý rủi ro, giám sát cảnh báo, phục hồi sinh thái và xử lý ô nhiễm rác thải nhựa đại dương; đặc biệt, bổ sung cơ chế trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô nhiễm dầu, hóa chất và nội luật hóa các cam kết quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học tại các vùng biển ngoài quyền tài phán quốc gia.
Bổ sung chính sách ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực biển hiện đại, xanh, tuần hoàn
Trình bày báo cáo thẩm tra sơ bộ dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải cho biết, Thường trực Ủy ban cơ bản tán thành việc mở rộng phạm vi điều chỉnh sang quản lý, sử dụng không gian biển.
Thường trực Ủy ban đề nghị bổ sung cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển các hoạt động kinh tế sử dụng không gian biển vào phạm vi điều chỉnh. Đồng thời, yêu cầu xác định rõ nguyên tắc áp dụng pháp luật, bảo đảm quản lý tổng hợp không làm thay đổi, chồng lấn thẩm quyền quản lý chuyên ngành và không phát sinh thủ tục hành chính không cần thiết.
Về chính sách và nguyên tắc quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển, bảo vệ môi trường biển, Thường trực Ủy ban cơ bản tán thành các nội dung trong dự thảo Luật, đồng thời đề nghị làm rõ hơn các nguyên tắc cốt lõi của quản lý tổng hợp.
Theo đó, việc quản lý phải bảo đảm điều phối liên ngành, giải quyết xung đột trong khai thác, sử dụng tài nguyên và không gian biển, nhưng không thay thế thẩm quyền quản lý theo pháp luật chuyên ngành. Việc phân bổ không gian biển phải tôn trọng các quyền hợp pháp đã được xác lập, bảo đảm quyền tiếp cận biển của cộng đồng và quyền hợp pháp của các quốc gia khác theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).
Thường trực Ủy ban cũng đề nghị mỗi chính sách phải có cơ chế thực hiện tương ứng; các ưu đãi, ngoại lệ hoặc hạn chế quyền của tổ chức, cá nhân phải dựa trên tiêu chí minh bạch. Đồng thời, nghiên cứu bổ sung chính sách ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực biển hiện đại, xanh, tuần hoàn, có giá trị gia tăng cao và khả năng dẫn dắt, lan tỏa; từng bước làm chủ biển xa, biển sâu và các không gian biển mới.
Xác định quản lý, sử dụng không gian biển là nền tảng
Góp ý kiến vào dự thảo Luật, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh lưu ý việc giao, cho thuê hoặc đăng ký sử dụng khu vực biển không làm phát sinh quyền sở hữu đối với biển, đáy biển, khối nước hay vùng trời, đồng thời không mặc nhiên cho phép khai thác tài nguyên nếu chưa đáp ứng quy định của pháp luật chuyên ngành. Cần tránh cách hiểu quyền sử dụng khu vực biển giống hoàn toàn với quyền sử dụng đất.
Đối với quy định điều kiện đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh đề nghị phân biệt rõ giữa nhà đầu tư (chủ thể bỏ vốn, chịu trách nhiệm về hiệu quả dự án) và nhà thầu thi công (chủ thể xây dựng theo hợp đồng) để không áp đặt tiêu chí kỹ thuật thi công vượt quá vai trò của nhà đầu tư.
Trong khi đó, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho rằng các công trình trên biển mang tính tích hợp cao giữa kinh tế và quốc phòng, an ninh. Do đó, thay vì đặt "đấu giá" làm phương thức chủ đạo, cần nghiên cứu áp dụng hình thức "đấu thầu theo mục tiêu" và quản lý theo mục tiêu để bảo đảm kiểm soát chặt chẽ an ninh-quốc phòng sau khi giao biển.
Phát biểu ý kiến tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu lần sửa đổi này phải thể hiện được bước chuyển tư duy đột phá, từ quản lý tài nguyên đơn thuần sang mô hình quản trị biển hiện đại. Trong đó, có 4 vấn đề trụ cột cốt lõi: pháp lý, quản trị, kinh tế biển và môi trường.
Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, việc quản lý, sử dụng không gian biển là nội dung nền tảng, cần giữ vững nguyên tắc quản lý đồng bộ từ cột nước, đáy biển đến lòng đất dưới đáy biển. Đồng thời, có cơ chế xử lý chồng lấn giữa các lĩnh vực dầu khí, điện gió, nuôi biển, hàng hải, quốc phòng, bảo tồn; quy định việc sử dụng đa mục đích, sử dụng chung và phân định trách nhiệm quản lý hành chính trên biển.
Chủ tịch Quốc hội cũng đề nghị định nghĩa rõ khái niệm "không gian biển" ngay trong Luật để bảo đảm tính thống nhất, tránh va chạm với các luật liên quan như Luật Quy hoạch, Luật Điện lực, Luật Dầu khí... Quy hoạch không gian biển quốc gia phải đóng vai trò "tầng trên" định hướng cho các giấy phép ngành.
Đối với các khu vực phát sinh chồng lấn giữa dầu khí, điện gió, nuôi biển, hàng hải, quốc phòng và bảo tồn, Luật cần quy định cơ chế xử lý theo 5 thứ tự ưu tiên minh bạch: quốc phòng-an ninh; an toàn hàng hải; hệ sinh thái nhạy cảm; hạ tầng chiến lược; phát triển kinh tế.
Về quyền sử dụng khu vực biển, Chủ tịch Quốc hội nêu rõ, dự thảo Luật cho phép chuyển nhượng, cho thuê, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển và tài sản gắn liền nhằm khơi thông nguồn vốn huy động từ ngân hàng và nhà đầu tư. Tuy nhiên, phải xác định rõ đây là quyền sử dụng, không tạo ra quyền sở hữu đối với biển, mặt nước hay đáy biển, bảo đảm giữ vững "lằn ranh chủ quyền".
Đối với kiểm soát ô nhiễm, bảo tồn hệ sinh thái, Chủ tịch Quốc hội khẳng định, cần chuyển từ xử lý sang phòng ngừa ô nhiễm, xem sức chịu tải của môi trường biển là điều kiện pháp lý bắt buộc, không chỉ là bản đồ kỹ thuật. Đẩy mạnh kiểm soát rác thải nhựa đại dương, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, đồng thời tăng cường chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho các dự án kinh tế biển.
VĂN TOẢN