Bỏ qua điều hướng
•

Tạo điểm đến hấp dẫn từ liên kết các giá trị

Tạo điểm đến hấp dẫn từ liên kết các giá trị
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Du lịch Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ với lượng khách và tổng thu liên tục tăng trưởng. Nhưng để duy trì sức hấp dẫn lâu dài, cần đi xa hơn việc khai thác cảnh quan và di sản, hướng tới phát triển xanh, gìn giữ bản sắc văn hóa và bảo đảm cộng đồng địa phương thật sự được hưởng lợi.

Văn hóa là động lực mạnh mẽ

Trong xu hướng du lịch có trách nhiệm, du khách ngày càng quan tâm đến trải nghiệm gắn với môi trường và đời sống bản địa. Sức hấp dẫn của một điểm đến đôi khi bắt đầu từ những điều bình dị: Nếp nhà cổ được gìn giữ qua nhiều thế hệ, một nghề thủ công còn hiện diện thường ngày, hay cách người dân đón khách bằng món ăn và câu chuyện của quê hương. Khi những giá trị ấy được bảo tồn và trở thành một phần của trải nghiệm du lịch, di sản có thêm cơ hội được bảo tồn, còn cộng đồng có thêm cơ hội cải thiện sinh kế.

Số liệu thống kê trong những năm gần đây về tăng trưởng du lịch Việt Nam cho thấy khả năng phục hồi và sức hút của ngành kinh tế quan trọng này, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về chất lượng tăng trưởng, nhất là khi tài nguyên thiên nhiên và văn hóa đang trở thành những yếu tố tạo nên sức cạnh tranh của điểm đến.

Ở nhiều địa phương miền núi, du lịch đang mở ra hướng phát triển kinh tế dựa trên những giá trị vốn có của bản làng. Tại tỉnh Lai Châu, bản du lịch cộng đồng Sin Suối Hồ là một trong những điểm đến nổi bật hàng đầu nhờ tiên phong phát triển du lịch cộng đồng (từ năm 2015) và duy trì sức hút được tạo nên từ cảnh quan vùng cao, những vườn địa lan, ẩm thực và đời sống văn hóa của đồng bào H’Mông. Năm 2025, Sin Suối Hồ được trao Giải thưởng Du lịch Việt Nam cho hạng mục “Điểm du lịch cộng đồng tốt nhất”. Theo Trưởng bản Vàng A Chỉnh, bản đón khoảng 20.000 lượt khách mỗi năm, doanh thu đạt hàng tỷ đồng. Nguồn thu từ du lịch giúp người dân có thêm sinh kế, chăm lo việc học hành của con em, đồng thời góp phần giữ gìn đường bản sạch đẹp và môi trường sống.

Một mô hình đáng chú ý khác là Khu bảo tồn Làng nhà sàn dân tộc sinh thái Thái Hải, tỉnh Thái Nguyên. Với 30 ngôi nhà sàn Tày, Nùng nguyên bản được chuyển về từ vùng Định Hóa, nơi đây kết nối kiến trúc, phong tục, ẩm thực, sinh hoạt cộng đồng và cảnh quan xanh thành sản phẩm du lịch. Năm 2022, Thái Hải được Tổ chức Du lịch thế giới, nay là Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc (UN Tourism), công nhận là “Làng du lịch tốt nhất thế giới”. Năm 2025, sản phẩm du lịch văn hóa dân tộc Tày của Khu bảo tồn được công nhận OCOP 5 sao cấp quốc gia.

Từ miền núi đến miền biển, mỗi vùng đất đều có thể tìm thấy hướng đi riêng từ bản sắc. Chẳng hạn tại làng Lò - làng chài cổ 400 năm tuổi ở tỉnh Đắk Lắk sở hữu vẻ đẹp hiếm có với kiến trúc đặc trưng mái ngói đỏ nổi bật bên bờ biển xanh cát trắng. Thay vì chỉ khai thác cảnh quan hay ẩm thực, các sản phẩm trải nghiệm nơi đây hướng du khách đến gần hơn với nghề biển truyền thống, như đan lưới hay làm mắm, với tín ngưỡng thờ cá Ông, lễ hội Cầu ngư và các sinh hoạt văn nghệ dân gian. Làng Lò đã được Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam lựa chọn là một đại diện tham gia tranh giải “Làng Du lịch tốt nhất thế giới” năm 2026 của UN Tourism.

Những mô hình trên là minh chứng: Tài nguyên để phát triển du lịch không nhất thiết phải đến từ các công trình mới hay những khoản đầu tư lớn. Cảnh quan được bảo vệ, văn hóa được duy trì thực hành và cộng đồng biết tổ chức các giá trị sẵn có thành trải nghiệm phù hợp đều có thể tạo nên những điểm đến hút khách.

Nhận diện sức ép từ tăng trưởng

Tuy nhiên, thực tế thời gian qua cũng cho thấy: Khi lợi ích kinh tế trước mắt trở thành ưu tiên, cảnh quan và đời sống văn hóa có thể phải chịu những tác động tiêu cực.

Ở một số điểm du lịch cộng đồng, đã có tình trạng phát triển “nóng” khiến kiến trúc truyền thống bị thay thế, bê-tông hóa xâm chiếm không gian vốn hài hòa với thiên nhiên; công trình xây mới, biển hiệu và các điểm chụp ảnh thi nhau mọc lên theo nhu cầu kinh doanh. Đáng lo ngại hơn là tình trạng lấy danh nghĩa sáng tạo để vay mượn những biểu tượng văn hóa không phù hợp, như cho thuê trang phục nước ngoài hay dựng tiểu cảnh mô phỏng địa điểm nổi tiếng của thế giới, chỉ để gây tò mò, làm phông nền check-in. Điểm đến có thể đông vui hơn trong ngắn hạn, nhưng thật khó giữ chân và thu hút khách về lâu dài vì tự làm suy giảm dần thế mạnh giá trị bản sắc.

Theo ông Phạm Hải Quỳnh, Viện trưởng Phát triển du lịch châu Á: Hoạt động bảo tồn văn hóa ở một số nơi còn nặng tính hình thức, chú trọng sân khấu hóa và biểu diễn phục vụ khách, trong khi việc duy trì, trao truyền sinh hoạt văn hóa gốc cho thế hệ trẻ chưa được quan tâm tương xứng. Nếu phong tục chỉ được tái hiện theo lịch biểu diễn, trang phục chỉ được sử dụng để chụp ảnh, còn nghề thủ công chỉ xuất hiện trong không gian đón khách, việc khai thác du lịch chưa chắc đã giúp văn hóa tiếp tục sống trong cộng đồng.

Một hạn chế khác là sự phân mảnh trong phát triển du lịch. Nhiều địa phương có tài nguyên văn hóa phong phú nhưng chưa kết nối hiệu quả với doanh nghiệp lữ hành, cơ sở lưu trú, dịch vụ ăn uống và các hộ sản xuất đặc sản. Những trải nghiệm tương tự được khai thác ở nhiều nơi, tạo thành những tour du lịch giống hệt nhau, thiếu dấu ấn riêng, bỏ qua việc tổ chức hành trình liên kết câu chuyện đặc sắc của địa phương về lịch sử, nghề truyền thống, ẩm thực và cảnh quan. Khi thiếu kết nối, thời gian lưu trú khó kéo dài, giá trị kinh tế tạo ra bị chia nhỏ và lợi ích của người dân chưa tương xứng với tiềm năng bao trùm của địa phương.

Đặt cộng đồng vào vị trí trung tâm

Phát triển du lịch cộng đồng không chỉ là xây dựng thêm homestay hay tổ chức thêm hoạt động biểu diễn. Ở cấp quản lý, quy hoạch du lịch cần gắn với sức chịu tải của hệ sinh thái và nhu cầu thực tế của cư dân. Không phải điểm đến nào cũng cần tăng nhanh lượng khách, mà phải phân bổ khách hợp lý, kéo dài thời gian lưu trú, chia sẻ thị trường và giảm áp lực lên những điểm đến nổi tiếng.

Thêm vào đó, bảo tồn văn hóa cũng cần được nhìn nhận như một quá trình sống, bắt đầu từ gia đình, trường học và cộng đồng. Nghề thủ công, tiếng nói, trang phục, ẩm thực, lễ hội và tri thức bản địa chỉ được duy trì khi còn người thực hành, trao truyền. Du lịch có thể tạo thêm nguồn lực cho quá trình ấy, nhưng không thể thay thế vai trò của cộng đồng trong việc lựa chọn giá trị cần gìn giữ. Mặt khác, du khách cũng cần được khuyến khích ứng xử có trách nhiệm, tôn trọng phong tục, môi trường và không gian riêng tư của cư dân.

Bàn về vấn đề này, PGS, TS Mai Quang Vinh, Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng Thư ký Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam, Viện trưởng Công nghệ Xanh, cho rằng: Cần đổi mới cách đánh giá hiệu quả phát triển du lịch cộng đồng. Bên cạnh lượng khách và doanh thu, địa phương cần theo dõi tỷ lệ lợi ích kinh tế được giữ lại trong cộng đồng, tỷ lệ lao động địa phương và mức độ hài lòng của cư dân.

Ông Yasushi Ogura, người Nhật Bản dành nhiều tâm huyết hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng tại Tuyên Quang, nhấn mạnh vai trò quan trọng của quyền làm chủ của cư dân trong thúc đẩy du lịch cộng đồng. Khi hỗ trợ một gia đình phát triển quán cà-phê Cực Bắc trong ngôi nhà truyền thống ở bản Lô Lô Chải, ông để người dân tự vận hành và làm chủ nguồn thu. Theo ông, nếu cư dân chỉ trở thành người làm thuê trên chính vùng đất của mình, du lịch chưa thể được xem là phát triển cộng đồng đúng nghĩa. Một điểm đến có thể đông khách, doanh thu lớn nhưng vẫn thiếu bền vững nếu phần lớn giá trị kinh tế chảy ra ngoài.

Ông Dương Minh Bình, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Phát triển Du lịch Cộng đồng Việt Nam (CBT Travel), đúc kết cách tiếp cận này: “Không biến một ngôi làng thành một điểm du lịch, mà giúp một ngôi làng nhận ra chính mình có thể trở thành một điểm đến”. Thay vì áp đặt một mô hình kinh doanh có sẵn, quá trình phát triển cần được bắt đầu từ cảnh quan, văn hóa, nghề truyền thống và nhu cầu thực tế của cư dân.

Du lịch Việt Nam đã có những thành công bước đầu cho thấy bản sắc văn hóa và phát triển kinh tế hỗ trợ nhau một cách tích cực. Thách thức tiếp theo là mở rộng những cách làm hiệu quả và đặt giới hạn rõ ràng cho việc khai thác tài nguyên. Đó là trách nhiệm chung của cơ quan quản lý, doanh nghiệp, người dân và du khách, đòi hỏi sự liên kết từ địa phương đến quốc gia.

MỸ HẠNH

Du lịch Việt Nam đang chứng kiến bước chuyển mình rõ nét khi hướng đi bền vững dần thay thế cách khai thác cảnh quan đơn thuần. Sức cạnh tranh của mỗi điểm đến hiện nay được định hình từ chiều sâu văn hóa bản địa, môi trường sinh thái nguyên vẹn và sự tham gia thực chất của cộng đồng địa phương. Khi nếp sống truyền thống trở thành sản phẩm trải nghiệm, di sản vừa được bảo tồn vừa tạo động lực kinh tế trực tiếp cho người dân. Tại khu vực miền núi, bản Sin Suối Hồ tại tỉnh Lai Châu là điểm sáng điển hình nhờ tiên phong làm du lịch cộng đồng từ năm 2015, đón khoảng 20.000 lượt khách mỗi năm với doanh thu hàng tỷ đồng và đạt giải Điểm du lịch cộng đồng tốt nhất năm 2025. Tương tự, Khu bảo tồn Làng nhà sàn dân tộc sinh thái Thái Hải tại tỉnh Thái Nguyên đã phục dựng 30 ngôi nhà sàn Tày, Nùng nguyên bản, từng được UN Tourism vinh danh Làng du lịch tốt nhất thế giới năm 2022 và đạt chứng nhận OCOP 5 sao quốc gia năm 2025. Xu hướng kết nối các giá trị cội nguồn tiếp tục lan tỏa tới những không gian di sản ven biển. Làng chài cổ 400 năm tuổi làng Lò tại tỉnh Đắk Lắk thu hút du khách nhờ gìn giữ nghề đan lưới, làm mắm, tín ngưỡng thờ cá Ông cùng lễ hội Cầu ngư đặc sắc. Điểm đến này vừa được Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam đề cử tham gia giải Làng Du lịch tốt nhất thế giới năm 2026 của UN Tourism. Thực tế từ các mô hình khẳng định nguồn lực phát triển du lịch không nhất thiết phụ thuộc vào những dự án bê tông hóa hay khoản đầu tư đồ sộ. Giá trị cốt lõi nằm ở khả năng liên kết hài hòa giữa bảo vệ cảnh quan, thực hành di sản sống và nâng cao sinh kế bền vững cho người dân bản địa.
amung