“Lên màu” nghề cổ trong sáng tạo mới
Tại sự kiện “Lưu trăng phố cổ 2026” gần đây, các dự án Thong Dong, Của Nả và The Annam đã mang đến những cách tiếp cận khác nhau. Với Thong Dong, họa sĩ Nguyễn Văn Bắc (Nam Chi) khai thác mỹ thuật đình làng và hình ảnh ngựa tế, voi chiến để sáng tạo những tác phẩm mới, kết hợp kỹ nghệ thủ công với ngôn ngữ thiết kế đương đại.
Trong khi đó, Của Nả của kiến trúc sư Trịnh Văn Khuê và nhà nghiên cứu Nguyễn Tuấn Anh phục dựng đèn kéo quân, đèn con cua đến đèn Nhật - Nguyệt… thông qua việc nghiên cứu tư liệu và khôi phục kỹ thuật chế tác truyền thống.
The Annam của Nguyễn Đức Anh lại tìm cảm hứng từ văn hóa khoa bảng, nghi trượng, lễ hội với những tạo tác như ông tiến sĩ giấy, lọng tán, mâm ngũ quả, đưa các hình tượng xưa đến gần công chúng bằng cách thể hiện sinh động hơn.
Tháng 7/2026, hơn 100 sinh viên của 11 trường đại học tại Hà Nội tham gia Summer Camp Re: Craft 2026 với chủ đề “Làng nghề tái sinh”. Từ giảng đường, các bạn trẻ thuộc nhiều lĩnh vực như kiến trúc, mỹ thuật, thiết kế, văn hóa, truyền thông... được đưa về năm làng nghề: gốm Kim Lan, sơn mài Hạ Thái, mây tre đan Phú Vinh, rối nước Đào Thục và thêu Quất Động. Trong khoảng một tuần, sinh viên khảo sát thực địa, gặp gỡ nghệ nhân, tìm hiểu vật liệu, kỹ thuật, lịch sử và những câu chuyện gắn với từng làng nghề, sau đó trở lại xưởng thiết kế, 10 nhóm sinh viên đã phát triển những câu chuyện và sản phẩm khác nhau. Theo tổng hợp của Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội, các nội dung của chương trình đã đạt hơn 310 nghìn lượt xem và hơn 10 nghìn lượt tương tác trên các kênh của Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội.
Một trong những sản phẩm được chú ý là “Quất Động Tú Hoa Ký - Hành trình dệt tinh hoa”, xây dựng trò chơi lấy chất liệu từ lịch sử, không gian văn hóa và kỹ thuật của làng nghề. Theo đó, người tham gia di chuyển qua các địa điểm gắn với địa bàn Quất Động, thu thập những vật phẩm liên quan đến nghề thêu và tìm hiểu các kỹ thuật như thêu đột, thêu bó, lướt vặn, sa hạt, thêu nổi, thêu hai mặt. Những kiến thức về nghề được chuyển thành luật chơi, nhiệm vụ và hành trình khám phá.
Ở Hạ Thái, Kim Lan, Phú Vinh hay Đào Thục, các nhóm sinh viên cũng tiếp cận di sản từ đặc trưng riêng của từng làng nghề. Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam Jonathan Baker đánh giá, các hoạt động như trên chính là cầu nối để sinh viên học hỏi trực tiếp từ nghệ nhân, phát huy sức sáng tạo của tuổi trẻ và tìm những hướng đi mới để di sản làng nghề tiếp tục có sức sống trong đời sống đương đại.
Cuộc thi “Theo bước di sản cộng đồng” năm 2026 dành cho những người trẻ từ 21 đến 30 tuổi, trong đó có nhà thiết kế, nghệ nhân, sinh viên, học viên các ngành di sản, văn hóa, nghệ thuật, thiết kế, truyền thông, công nghệ và các nhóm sáng tạo liên ngành cũng đã mở rộng hành trình vào đời sống của cộng đồng sở hữu di sản. Trong những chất liệu được lựa chọn cho mùa giải năm nay có gốm Bát Tràng, sơn mài Hạ Thái... Các thí sinh vượt qua vòng sơ loại được trải nghiệm “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” với nghệ nhân và cộng đồng.
Dù tiếp cận di sản bằng nhiều con đường: điền dã, thiết kế, trò chơi, sản phẩm nội thất, truyền thông số… điểm chung trong tiếp cận của người trẻ là quá trình sáng tạo ngày càng được đặt gần hơn với nơi di sản tồn tại và cộng đồng trực tiếp gìn giữ di sản.
Nhu cầu hỗ trợ tài chính, chuyên môn
Từ những chương trình kết nối người trẻ với di sản có thể nhận thấy nhịp chuyển động đáng chú ý trong cách tiếp cận. Tuy nhiên, đôi khi kết quả bước đầu cũng cho thấy khoảng cách từ ý tưởng đến đời sống còn khá xa. Bà Phạm Minh Hiền, đại diện Ban tổ chức “Theo bước di sản cộng đồng”, cho rằng cách bảo tồn bền vững là tạo điều kiện để người trẻ kể lại câu chuyện di sản bằng ngôn ngữ thiết kế của thế hệ mình. Song, để những câu chuyện ấy được hiện thực hóa, người trẻ cần được hỗ trợ cả về tài chính và chuyên môn.
Đây là điểm nghẽn xuất hiện ở nhiều dự án sáng tạo. Ý tưởng có thể thuyết phục trên bản vẽ, nhưng khi chuyển sang sản xuất lại phát sinh hàng loạt vấn đề, như vật liệu có phù hợp hay không, người thợ có thể thực hiện kỹ thuật mới đến đâu, chi phí sản xuất, sản phẩm hướng tới nhóm khách hàng nào và đủ khả năng tiêu thụ hay không. Nếu những câu hỏi này chỉ được đặt ra sau khi sản phẩm đã hoàn thành, quá trình thử nghiệm sẽ mất thêm thời gian, nguồn lực. Với làng nghề, việc thiết kế cũng cần tính đến năng lực sản xuất tại chỗ. Một sản phẩm mới nếu phụ thuộc hoàn toàn vào những công đoạn mà làng nghề không thể thực hiện sẽ khó tạo ra sự tiếp nối giữa sáng tạo và nghề truyền thống. Khoảng cách ấy còn thể hiện ở khả năng duy trì sản phẩm sau chương trình. Cuộc thi, trại hè hay triển lãm có thể tạo môi trường để người trẻ thử nghiệm, song, sản phẩm muốn đi xa cần tiếp tục được làm mẫu, hoàn thiện, sản xuất và đưa đến công chúng. Đây là chặng đường đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể, từ nhà trường, nghệ nhân, làng nghề đến doanh nghiệp và các đơn vị hỗ trợ sáng tạo.
Một vấn đề khác được các chuyên gia lưu ý là cách sử dụng chất liệu văn hóa. Khi di sản được đưa vào thiết kế, người sáng tạo cần có đủ thông tin về nguồn gốc, ý nghĩa và bối cảnh của chất liệu. Tại nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm, giới chuyên môn cũng đã đặt vấn đề về trách nhiệm khi khai thác văn hóa truyền thống, trong đó nhấn mạnh yêu cầu nghiên cứu và thận trọng khi sử dụng lịch sử, trang phục, biểu tượng, chất liệu văn hóa trong các sản phẩm sáng tạo. Nếu thiếu hiểu biết hoặc thiếu sự tham vấn cần thiết, nguy cơ sử dụng sai lệch chất liệu văn hóa có thể xuất hiện.
Từ sản phẩm đến thị trường vẫn cần thêm nguồn lực để hoàn thiện, sản xuất và phân phối. Để một dự án ngắn hạn trở thành mô hình có khả năng duy trì, cũng cần sự kết nối giữa người sáng tạo, nghệ nhân, cộng đồng, cơ sở sản xuất và doanh nghiệp. Do đó, hiệu quả của sáng tạo từ di sản không nên chỉ được nhìn qua số lượng sản phẩm được tạo ra. Điều quan trọng hơn là sản phẩm có dựa trên hiểu biết đúng về di sản, có sự tham gia và thụ hưởng của cộng đồng, phù hợp với điều kiện sản xuất, đồng thời có khả năng tiếp tục phát triển sau chương trình hay không.
Đó cũng là cơ sở để đánh giá đầy đủ hơn những chương trình đưa người trẻ đến với di sản: Người trẻ hiểu thêm gì về giá trị được trao truyền, cộng đồng có thêm cơ hội gì từ quá trình sáng tạo và di sản được tiếp nối như thế nào trong đời sống đương đại. Theo nhận định của TS, nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đoàn Lâm, nhiều người trẻ tham gia sáng tạo hiện nay không xuất thân từ gia đình có nghề truyền thống. Họ đến từ những lĩnh vực khác nhau, nhưng gặp nhau ở niềm say mê và ý thức khai thác vốn cổ cho cuộc sống hiện đại. Theo ông, sự thay đổi về màu sắc, hình dáng, công năng của các sản phẩm là điều đáng khuyến khích nếu vẫn giữ được tinh thần truyền thống. Chính những người trẻ này đang trở thành nhịp cầu nối quá khứ với hiện tại và tương lai, tiếp nhận tri thức từ thế hệ đi trước, phát triển thành những sáng tạo mới rồi tiếp tục trao truyền. Để hành trình ấy bền vững, cần tạo điều kiện cho họ học hỏi nghệ nhân, nghiên cứu di sản và đưa sản phẩm vào đời sống, hình thành một lớp người tiếp nối văn hóa truyền thống bằng chính năng lực sáng tạo của mình.
Từ góc nhìn nghiên cứu và phát triển công nghiệp văn hóa, TS Phạm Minh Quân, giảng viên Khoa Nghệ thuật và Thiết kế, Trường Khoa học Liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, cần chuyển từ tư duy khai thác văn hóa của cộng đồng sang đồng sáng tạo với cộng đồng. Cần tiếng nói trong việc xác định câu chuyện được kể, giá trị được sử dụng, cách thức thể hiện và lợi ích được phân bổ. Theo đó, sáng tạo càng mạnh càng cần nền tảng nghiên cứu văn hóa đủ sâu. Đây là yêu cầu cần được đặt ngay từ khâu đầu của các dự án dành cho người trẻ.
Khiếu Minh