Bỏ qua điều hướng
•

Theo dòng Mekong, 'lời nguyền con rồng' và câu chuyện phát triển - Bài 2: Nước mặn có phải kẻ thù châu thổ?

Theo dòng Mekong, 'lời nguyền con rồng' và câu chuyện phát triển - Bài 2: Nước mặn có phải kẻ thù châu thổ?
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Ở cửa ngõ Mekong, nước mặn không chỉ lấn vào ruộng lúa mà đang buộc người dân thay đổi cách sản xuất, tư duy phát triển và cách ứng xử với tự nhiên.


- Ảnh 1.

"Siêu cống" Cái Lớn ngăn mặn xâm nhập vào đất liền từ sông Cái Lớn đoạn thuộc tỉnh Kiên Giang (cũ), nay là tỉnh An Giang - Ảnh: CHÍ QUỐC

Khi nước mặn cũng đem lại lợi ích

Ở bài trước, chúng ta nhìn Mekong từ hành trình của một dòng sông đến nơi gặp biển. Nhưng ở cửa ngõ cuối cùng ấy, biển không đứng yên. Nước mặn theo thủy triều đi vào những dòng sông, kênh rạch, len sâu vào đồng ruộng, tác động trực tiếp đến đất đai, mùa vụ và sinh kế.

Với nhiều người, mặn từng được xem như một mối đe dọa. Nước ngọt là điều kiện để cây lúa sinh trưởng. Vì vậy, khi mặn xâm nhập, phản ứng tự nhiên là tìm cách ngăn mặn, giữ ngọt, bảo vệ ruộng lúa.

Cách nghĩ ấy không sai. Trong nhiều hoàn cảnh, công trình thủy lợi, hệ thống cống, đê bao, trữ nước ngọt vẫn rất cần thiết để bảo vệ sản xuất và đời sống. Nhưng nếu chỉ nhìn nước mặn như một "kẻ thù", chúng ta sẽ khó nhìn thấy một sự thật khác: ở một vùng đất cuối nguồn như Cà Mau, mặn không phải hiện tượng có thể xóa bỏ bằng ý chí con người.

Câu hỏi vì thế phải thay đổi. Không chỉ là làm thế nào để chống mặn, mà là làm thế nào để sống, sản xuất và tạo ra giá trị trong điều kiện có mặn? Đây không chỉ là một câu hỏi cho phát triển nông nghiệp, mà là bài toán về mô hình phát triển.

Bởi khi điều kiện tự nhiên thay đổi, cách tổ chức nền kinh tế cũng phải thay đổi theo. Một vùng đất có thể không còn phù hợp với mô hình sản xuất cũ, nhưng điều đó không có nghĩa vùng đất ấy mất đi giá trị. Vấn đề là chúng ta có nhận ra giá trị mới của nó hay không.

Tiểu vùng bán đảo Cà Mau là một trường hợp đặc biệt để nhìn thấy sự chuyển đổi ấy. Nơi đây có sự đan xen của ba không gian sinh thái mặn - lợ - ngọt. Không có một công thức sản xuất duy nhất phù hợp cho toàn vùng. Có nơi chủ động được nước ngọt, có thể thâm canh lúa.

Có nơi phụ thuộc nhiều vào nước trời, chịu ảnh hưởng rõ hơn của mặn - lợ, thì một vụ lúa hoặc mô hình kết hợp lại phù hợp hơn. Khác biệt sinh thái không phải là bất lợi nếu biết biến nó thành lợi thế kinh tế. Đó là điểm khởi đầu của tư duy thuận thiên.

Từ "chống mặn" sang "thuận thiên"

- Ảnh 3.

Cánh đồng tôm - lúa ở Cà Mau - Ảnh: CHÍ QUỐC

Có một thay đổi rất đáng ghi nhận trong tư duy phát triển và hành động thực tiễn phát triển vùng châu thổ Cửu Long những năm gần đây. Đó là chuyển từ tư duy "chống lại tự nhiên" sang "thuận theo tự nhiên".

Thuận thiên không có nghĩa là buông xuôi trước thiên tai, càng không có nghĩa là bỏ mặc sản xuất cho tự nhiên quyết định. Thuận thiên là hiểu quy luật tự nhiên để tổ chức lại sản xuất phù hợp hơn. Nơi nào cần giữ ngọt thì đầu tư giữ ngọt. Nơi nào phải sống chung với mặn thì tìm cách tạo sinh kế từ mặn. Nơi nào có điều kiện lợ thì tổ chức mô hình sản xuất thích hợp với nước lợ.

Nói cách khác, không dùng một chiếc áo để mặc cho cả đồng bằng. Đây là một thay đổi tưởng như đơn giản nhưng có ý nghĩa rất lớn. Bởi trong một thời gian dài, chúng ta thường nhìn đồng bằng như một mặt bằng sản xuất tương đối đồng nhất: đất phù sa, nguồn nước dồi dào, có thể mở rộng diện tích, tăng vụ, tăng năng suất.

Nhưng Đồng bằng sông Cửu Long hôm nay không còn là đồng bằng của vài chục năm trước. Dòng chảy thay đổi. Phù sa suy giảm. Nước biển dâng. Sụt lún đất gia tăng. Hạn hán, xâm nhập mặn diễn biến khó lường hơn. Những yếu tố ấy cộng hưởng với nhau, tạo ra sức ép mới lên sản xuất và sinh kế.

Trong bối cảnh đó, cố giữ nguyên một mô hình sản xuất chỉ vì nó từng thành công có thể là một lựa chọn nhiều rủi ro. Điều quan trọng hơn là giữ được khả năng thích ứng của vùng đất và quyền lựa chọn của người dân.

Mô hình lúa - tôm ở Cà Mau là một minh chứng sinh động. Các mô hình phát triển thủy sản biến nơi đây thành thủ phủ tôm, vương quốc cua biển, những sản phẩm du lịch tích hợp nông nghiệp, thủy sản, sinh thái rừng đặc sắc của Mũi Cà Mau là những thí dụ thực tiễn sinh động.

- Ảnh 4.

Vùng sản xuất dọc theo sông Cái Lớn thuộc tỉnh Kiên Giang (nay là tỉnh An Giang) - Ảnh: CHÍ QUỐC

Thay vì cố biến vùng đất có mặn thành vùng đất thuần ngọt, người dân tận dụng chính sự thay đổi của điều kiện nước để tổ chức sản xuất theo mùa: mùa khô nuôi tôm, mùa mưa trồng lúa. Ở đây, con tôm và cây lúa không nhất thiết loại trừ nhau. Chúng có thể bổ sung cho nhau trong một hệ sinh thái sản xuất.

Ở đây có một yêu cầu rất thực tế của Nhà nước pháp quyền: sự chuyển đổi phải có luật chơi rõ ràng và công bằng. Nông dân cần biết quyền sử dụng đất, quyền tiếp cận nước, quyền lựa chọn mô hình sản xuất của mình được bảo đảm đến đâu. Doanh nghiệp cần một môi trường chính sách ổn định để đầu tư dài hạn. Chính quyền cần có đủ thẩm quyền và năng lực để xử lý những vấn đề liên ngành, liên địa phương. Một chính sách tốt không chỉ đúng về chủ trương mà còn phải khả thi trong cuộc sống.

Điều đáng chú ý hơn cả là mục tiêu của mô hình không phải chỉ là làm cho cây lúa đạt năng suất cao nhất. Mục tiêu là tối ưu hóa giá trị trên một đơn vị đất, nước và hệ sinh thái. Đó là một cách nghĩ khác về hiệu quả.

Giá trị không phải chiến thắng tự nhiên

- Ảnh 5.

Thu hoạch lúa tại thành phố Cần Thơ - Ảnh: CHÍ QUỐC

Nếu chỉ nhìn từ góc độ sản lượng, một vụ lúa năng suất cao có thể là thành công. Nhưng nếu tính cả chi phí nước, đất, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, rủi ro thời tiết, thị trường và sức khỏe hệ sinh thái, thì câu chuyện trở nên khác.

Một nền nông nghiệp tốt không nhất thiết là nền nông nghiệp tạo ra nhiều sản phẩm nhất. Đó phải là nền nông nghiệp tạo ra nhiều giá trị hơn với ít tài nguyên hơn, ít rủi ro hơn và ít tổn thương hơn cho hệ sinh thái. Đây cũng là lúc cần nhìn lại khái niệm "giá trị" hạt lúa.

Một hạt lúa không chỉ có giá trị bởi số ký thu hoạch được trên một hecta. Giá trị còn nằm ở chất lượng, thương hiệu, khả năng truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn thị trường, mức phát thải, độ an toàn và khả năng tham gia vào những chuỗi giá trị có lợi hơn cho người sản xuất.

Và quan trọng nhất: người tạo ra giá trị có được hưởng một phần tương xứng hay không? Đây là câu hỏi không thể né tránh. Bởi nếu người nông dân phải chịu phần lớn rủi ro của thiên nhiên nhưng lại nhận phần nhỏ trong giá trị cuối cùng của sản phẩm, thì chuyển đổi sản xuất dù đúng về kỹ thuật vẫn chưa thể gọi là chuyển đổi thành công.

Theo dòng Mekong, 'lời nguyền con rồng' và câu chuyện phát triển - Bài 2: Nước mặn có phải kẻ thù châu thổ? - Ảnh 1.

Điều nông dân cần hiện nay là giá trị cao hơn và bền vững từ lao động chứ không chỉ là bao nhiêu tấn lúa - Ảnh: QUỐC MINH

Hệ sinh thái đặc biệt của vùng bán đảo Cà Mau chính là tài nguyên nước mặn – lợ ngọt phù hợp phát triển nền nông nghiệp đa dạng. Mặn có thể là rủi ro, nhưng nước mặn còn là tài nguyên. Nước lợ có thể là giới hạn đối với cây lúa, nhưng lại là điều kiện sinh thái cho con tôm.

Nghị quyết số 27 NQ/TW gợi ra một tiêu chuẩn quan trọng cho chính sách phát triển: lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức và doanh nghiệp làm trung tâm. Chuyển đổi xanh hay chuyển đổi mô hình sản xuất sẽ khó bền vững nếu lợi ích tập trung ở khâu cuối của chuỗi, còn người trực tiếp chịu rủi ro thiên nhiên lại đứng ở vị trí yếu nhất. Thể chế phải giúp phân bổ cơ hội công bằng hơn, bảo vệ người yếu thế và tạo điều kiện để người dân thực sự tham gia vào quá trình tạo lập giá trị mới.

Vùng đất ven biển có thể khó thích hợp với thâm canh lúa quanh năm, nhưng lại có thể tạo ra những hệ sinh thái có giá trị cao nếu được tổ chức hợp lý. Vấn đề không nằm ở chỗ tự nhiên "cho" hay "không cho". Vấn đề nằm ở cách con người đọc tự nhiên và chuyển hóa lợi thế ấy thành giá trị.

Cũng vì vậy, câu chuyện bán đảo Cà Mau không nên chỉ được kể bằng những con số về diện tích, sản lượng hay kim ngạch xuất khẩu. Cần kể bằng câu chuyện về khả năng thích ứng.

Một người nông dân biết "đọc nước" thay vì chỉ xem lịch mùa vụ. Một vùng sản xuất biết thay đổi cây trồng, vật nuôi theo điều kiện sinh thái. Một doanh nghiệp biết đi từ bán nguyên liệu sang xây dựng thương hiệu. Một chuỗi giá trị biết chia sẻ lợi ích và rủi ro công bằng hơn. Và một chính sách biết chuyển từ hỗ trợ người dân "chống lại" tự nhiên sang hỗ trợ họ thích ứng và tạo sinh kế bền vững cùng tự nhiên là những gì vùng đất này cần cho sự phát triển thích ứng và bền vững.

Đó mới là sức sống của một vùng đất cuối nguồn. Mekong đi đến biển không có nghĩa là câu chuyện kết thúc. Ngược lại, ở nơi dòng sông gặp biển, một câu chuyện mới đang mở ra: từ nước mặn đến những mô hình kinh tế mới; từ sản xuất theo kinh nghiệm đến sản xuất dựa trên dữ liệu; từ tăng sản lượng sang tăng giá trị.

- Ảnh 6.

Chuẩn bị vụ mùa mới ở Đồng bằng sông Cửu Long - Ảnh: CHÍ QUỐC

Theo dòng Mekong, 'lời nguyền con rồng' và câu chuyện phát triển - Bài 2: Nước mặn có phải kẻ thù châu thổ? - Ảnh 2.

Nước ngọt sông Mekong là nguồn lợi tự nhiên của đồng bằng sông Cửu Long, nhưng vùng duyên hải châu thổ này cũng có lợi thế đa dạng từ biển - Ảnh: QUỐC MINH

Nhưng vẫn còn một câu hỏi lớn hơn. Nếu cây lúa là biểu tượng của một đồng bằng từng được xây dựng trên lợi thế nước ngọt, thì khi điều kiện tự nhiên thay đổi, cây lúa sẽ đi về đâu?

Có phải cứ có công nghệ mới, giống mới là có thể giữ cây lúa ở mọi nơi? Hay đến một lúc nào đó, câu hỏi đúng hơn sẽ là: ở đâu nên giữ lúa, ở đâu nên chuyển đổi, và làm thế nào để sự chuyển đổi ấy không biến người nông dân thành người chịu thiệt cuối cùng?

Từ câu chuyện sống cùng vị mặn, chúng ta sẽ đi đến câu chuyện của hạt lúa ở cuối nguồn. Bởi đằng sau một hạt gạo không chỉ là đất, nước và giống. Đó còn là khoa học, thị trường, sinh kế và một lựa chọn phát triển. Câu hỏi quan trọng nhất không phải là làm sao để cây lúa thắng được nước mặn. Mà là làm sao để con người thắng được sự bất định của tương lai.

(Bài tới: Mở cửa ra biển lớn)

Theo dòng Mekong, 'lời nguyền con rồng' và câu chuyện phát triển - Bài 2: Nước mặn có phải kẻ thù châu thổ? - Ảnh 9.Theo dòng Mekong, 'lời nguyền con rồng' và câu chuyện phát triển - Bài 1: Nơi dòng sông gặp biển

Ở cuối hành trình gần 5.000km, trước khi dòng Mekong gặp biển đã kịp tạo nên một châu thổ Cửu Long trù phú. Ngày nay, trước tác động biến đổi khí hậu, nước biển dâng, suy giảm tài nguyên nước sông Mekong, đồng bằng này đang đứng trước nhiều thách thức to lớn.

Tại khu vực cửa ngõ vùng châu thổ Cửu Long, hiện tượng xâm nhập mặn theo các đợt thủy triều không còn đơn thuần là mối đe dọa sinh kế cần bị xóa bỏ bằng ý chí con người. Tác động tự nhiên này đang buộc các địa phương như Cà Mau cùng vùng ảnh hưởng của công trình thủy lợi Cái Lớn phải thay đổi toàn diện tư duy ứng xử và mô hình sản xuất. Việc nhìn nhận khách quan về nước mặn giúp người dân chuyển dần từ tâm lý chống đối bị động sang hướng thích ứng chủ động và tạo ra giá trị mới. Tiểu vùng bán đảo Cà Mau đại diện cho sự chuyển đổi linh hoạt nhờ sở hữu hệ sinh thái đan xen giữa các vùng mặn, lợ và ngọt. Thay vì áp dụng một mô hình độc canh lúa cố định cho toàn bộ đồng bằng, nhiều khu vực đã tổ chức sản xuất linh hoạt theo từng điều kiện nguồn nước thực tế. Việc kết hợp các mô hình kinh tế như tôm lúa tại khu vực phụ thuộc nước trời đã biến khác biệt sinh thái thành lợi thế phát triển vượt trội. Bước chuyển từ tư duy chống lại tự nhiên sang tinh thần thuận thiên thể hiện tầm nhìn phát triển bứt phá và thực tiễn của châu thổ sông Mekong. Thuận thiên không đồng nghĩa với việc bỏ mặc sản xuất cho thiên nhiên mà là sự thấu hiểu quy luật địa lý để quy hoạch lại từng vùng sinh thái. Việc hạ tầng thủy lợi được đầu tư đúng mục đích giữ ngọt hoặc khai thác mặn lợ sẽ giúp tối ưu hóa nguồn lực và đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân.