Bỏ qua điều hướng

Tiếng chiêng mang hồn núi

Tiếng chiêng mang hồn núi
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Với người Pa Kô, Vân Kiều trên đỉnh Trường Sơn, chiêng chưa bao giờ chỉ vang lên trong những ngày hội. Tiếng chiêng tiễn người về với núi, gọi người trở về với buôn làng, nối ký ức của người già với bước chân của lớp trẻ. Nghệ nhân dân gian Kôn Hơm (xã Tà Rụt, Quảng Trị) nói: Giữ được tiếng chiêng g...

Mỗi chiếc chiêng có phận đời riêng

Trong căn nhà của nghệ nhân Kôn Hơm ở xã Tà Rụt (Quảng Trị), một chiếc cồng và sáu chiếc chiêng nằm lặng lẽ bên nhau, qua bao biến thiên thời cuộc.

“Những chiếc chiêng này, có chiếc kế thừa từ tổ tiên, có chiếc tôi mua thêm. Mỗi chiếc có một nhiệm vụ. Trong đó, ba chiếc dành để đánh khi có người trong dòng họ hoặc cộng đồng qua đời. Hai chiếc thường được sử dụng khi tiếp đón khách quý, đón thông gia. Chiếc còn lại chỉ dùng làm lễ vật để thờ cúng. Cùng là cồng, chiêng, nhưng không phải lúc nào cũng có thể cất tiếng. Mỗi âm thanh gắn với một sự kiện, một nghi lễ, một mối quan hệ giữa con người với cộng đồng, với người đã khuất và với thế giới thần linh. Đối với người Pa Kô, mỗi khi có lễ cúng và tổ chức lễ hội thì nhất thiết phải có tiếng cồng, tiếng chiêng, tiếng khèn và âm thanh của các loại nhạc cụ truyền thống để tạo nên không khí vui vẻ, sum họp, đầm ấm trong bản làng”, nghệ nhân Kôn Hơm tâm sự.

Già làng Kôn Bắt ở Tà Rụt cũng đang lưu giữ bốn chiếc chiêng và ba chiếc cồng. “Trong số này, có chiếc ngày trước cha ông phải mua bằng một nén bạc trắng, có chiếc phải đổi bằng một con trâu đực. Tiếng chiêng là tiếng vọng của quá khứ giữa đại ngàn, kết nối giữa quá khứ với hiện tại và tương lai, giúp con người tìm về nguồn cội và giữ gìn phong tục tập quán từ bao đời. Mỗi khi tổ chức lễ A Riêu Ping, chúng tôi lại đánh chiêng, đánh cồng để không khí thêm náo nhiệt, mọi người sẽ cùng nhau nhảy múa. Đó là phong tục từ đời cha ông để lại”, già làng Kôn Bắt nói. Cồng chiêng đến với các bản làng vùng cao từ những chuyến đi của thương nhân. Vốn là sản phẩm của những làng nghề đúc đồng truyền thống của người Kinh, những nhạc cụ ấy theo thời gian đã bước vào đời sống của người Pa Kô, Vân Kiều và được cộng đồng tiếp nhận, sử dụng theo cách riêng. Cồng, chiêng, vì thế trở thành tiếng nói của cộng đồng, là tiếng gọi trong lễ hội, tiếng tiễn đưa người đã khuất, tiếng đón khách quý và cũng là âm thanh dùng để giao tiếp với thần linh, tổ tiên. Tiếng cồng, tiếng chiêng trở thành một thứ ngôn ngữ đặc biệt. Nghe tiếng chiêng, người trong cộng đồng có thể hiểu điều gì đang diễn ra.

Nhịp cầu nối những miền thế giới

Có những người đã rời khỏi cuộc đời từ nhiều năm trước, nhưng trong ký ức của các gia đình Vân Kiều, họ chưa bao giờ thật sự đi xa. Sau khi người thân được gửi lại nơi rừng ma, người sống không bước chân vào đó để thăm viếng mộ phần. Nhưng, nỗi nhớ về người đã khuất vẫn được giữ lại trong gia đình, trong dòng họ. Đến một thời điểm thích hợp, có khi mười năm, có khi hai mươi năm sau, con cháu tổ chức lễ Ra-pưp giỗ để gọi người đã khuất trở về dự lễ.

Ông Hồ Văn Pu ở Hướng Lập chia sẻ: “Phần quan trọng của lễ Ra-pứp giỗ là mời gọi và chào đón linh hồn người đã khuất trở về với gia đình. Trong khoảnh khắc ấy, tiếng trống, tiếng chiêng vang lên hối hả, ngân dài. Người đã khuất được tiếng chiêng gọi về với gia đình, với những người thân mà khi còn sống họ từng gắn bó. Sau những ngày lễ, khi nghi thức khép lại, những người thân trong dòng họ lại chia tay, tiễn linh hồn người chết trở về nơi yên nghỉ dưới những tán rừng già, cũng bằng những tiếng chiêng”.

Ông Pu cũng bảo, người Vân Kiều còn có lễ Ra-pứp khơi-cu-ya. Nghi lễ ấy như chiếc chìa khóa mở ra những chặng đời mới. “Âm thanh tiếng chiêng trong lễ Ra-pứp khơi-cu-ya thường chậm rãi, nhịp điệu thong thả, nhẹ nhàng như ngày hội đoàn viên. Chừng nào chưa làm lễ, con cháu của ba dòng họ có quan hệ huyết thống với gia đình chủ lễ chưa thể dựng vợ, gả chồng; chủ lễ cũng chưa được phép cất một ngôi nhà mới”. Theo các già làng, trong phong tục của người Vân Kiều, một đời người thường gắn với những lễ lớn như cưới, lễ Rađong rồi đến lễ Ra-pứp. Đó là những dịp anh chị em trong gia đình, họ hàng và phía thông gia cùng tập trung gặp mặt. Tiếng cồng, tiếng chiêng trong những ngày ấy vừa nối con người với thần linh, tổ tiên, vừa nối những người đang sống với nhau. Nó gọi họ hàng về một mái nhà, gọi những người xa quê trở lại và kéo những ký ức tưởng như đã lùi xa trở lại với đời sống hiện tại.

Nỗ lực giữ lại nét văn hóa đặc sắc

Trong ký ức của các già làng, những đám chay ngày trước luôn có tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng thanh la và những điệu nhảy của cộng đồng. Người Bru - Vân Kiều tổ chức những đám lớn, dựng rạp, bà con từ nhiều nơi tìm về. Những thanh âm ấy từng là một phần tự nhiên của những ngày quan trọng trong đời sống bản làng. Rồi chiến tranh đi qua, những năm tháng cuộc sống khó khăn kéo dài, những bộ cồng, chiêng thất tán. Số chiêng còn lại có khi lâu ngày không được sử dụng, dần sai âm, lạc điệu.

Ông Hồ Văn Tỉu ở xã Hướng Lập nói: “Lo nhất là khi chiếc chiêng vẫn còn đó nhưng người biết sử dụng ngày một ít; khi người trẻ có thể nghe thấy tiếng chiêng nhưng không còn hiểu vì sao trong nghi lễ này phải đánh như thế, trong một dịp khác lại phải đánh theo một nhịp khác. Nếu không còn người biết sử dụng, không còn người hiểu ý nghĩa của từng tiếng chiêng, không còn người trẻ tiếp nhận, thì chiếc chiêng dù vẫn còn đó cũng khó có thể sống trong đời sống cộng đồng. Bởi thế, phải giữ lấy tiếng chiêng”.

Sau những năm tháng chiến tranh và biến động của đời sống, nhiều già làng bắt đầu đi tìm lại cồng, chiêng. Không ít người dành thời gian, công sức để sưu tầm từng chiếc, với mong muốn giữ lại chút hồn cốt văn hóa truyền thống cho thế hệ sau. Già Hồ Văn Sơn ở xã Lìa chậm rãi kể: “Tôi từng có nhiều năm vượt rừng tìm vào Huế, thậm chí vượt đèo Hải Vân vào tận vùng Quảng Nam - Đà Nẵng để tìm mua những chiếc cồng, chiếc chiêng sao cho vừa ý. Những chuyến đi ấy không chỉ là hành trình tìm kiếm một món đồ cổ hay một nhạc cụ, mà quan trọng hơn là níu lại một phần ký ức của cộng đồng”.

1789293174191-9210316807477064121-9210316807477064121-cb27d755cff93a90e1367d734b675778.jpg
Câu lạc bộ Cồng, chiêng thôn Cù Bai (xã Hướng Lập) được thành lập nhằm giữ gìn nét văn hóa truyền thống.

Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện ở xã Tà Rụt ước tính có hơn 200 chiếc cồng, chiêng được người dân lưu giữ. Đáng mừng hơn, ở xã Hướng Lập, người dân đã thành lập Câu lạc bộ cồng, chiêng. Để duy trì đội, họ bàn bạc với già làng, tìm cách sưu tầm lại cồng, chiêng, đồng thời kết nối những người cùng chung mong muốn gìn giữ bản sắc. Anh Hồ Văn Đươn, một thành viên Câu lạc bộ cho biết: “Cồng, chiêng từng bị mai một trong chiến tranh. Nay người dân tìm cách sưu tầm lại. Các thành viên Câu lạc bộ ai cũng nhiệt tình, hăng hái bởi họ hiểu cồng, chiêng gần gũi với đời sống và gắn với phong tục tập quán của cộng đồng”.

Nhìn đôi bàn tay chai sần của những già làng mân mê trên những mặt chiêng bằng đồng đã đi qua bao nắng mưa mùa rẫy, người viết hình dung ra thanh âm ấy đã, đang và sẽ tiếp tục vượt qua những triền núi Trường Sơn, kết nối các thế hệ và nối ký ức với hiện tại. Để giữa đại ngàn, tiếng chiêng không chỉ vọng về từ quá khứ mà còn có thể tìm được đường đi tới ngày mai. Nghệ nhân Kray Sức - một người dành trọn tâm huyết đời mình nghiên cứu văn hóa đồng bào Pa Kô, Vân Kiều trên dãy Trường Sơn, Quảng Trị nhìn nhận: “Muốn bảo tồn và lưu truyền cồng, chiêng thì trước hết phải biết về nó, rồi phải hiểu nó. Sau đó phải tìm cách để lớp trẻ được tiếp cận với cồng, chiêng... Nếu các bạn trẻ thích thì họ sẽ yêu và có thể bảo tồn. Chừng nào những chiếc chiêng ấy còn có người hiểu, có người đánh, có người nghe và có người muốn trao lại cho thế hệ sau, thì tiếng chiêng giữa đại ngàn vẫn chưa thể mất đi”...

Những bản làng nằm giữa núi rừng Trường Sơn có thể bị ngăn cách bởi những dãy núi và khe suối, nhưng trong những ngày lễ, người ta chắc chắn sẽ tìm về. Nghi lễ truyền thống, vì thế, không chỉ là phong tục mà còn tạo ra cơ hội để cộng đồng gặp nhau, nhận ra nhau và cùng nhớ về với những điều đã làm nên bản sắc quê hương mình.

PHAN VĨNH YÊN

Trong căn nhà của nghệ nhân Kôn Hơm ở xã Tà Rụt, Quảng Trị, một chiếc cồng cùng sáu chiếc chiêng nằm lặng lẽ, mang theo dấu vết của nhiều thế hệ. Ông nói mỗi chiếc có một phận đời riêng, bởi chúng được kế thừa từ tổ tiên hoặc mua thêm, rồi giao những nhiệm vụ khác nhau trong đời sống cộng đồng. Ba chiếc dùng khi người trong dòng họ hoặc cộng đồng qua đời, hai chiếc dành đón khách quý, đón thông gia, còn chiếc cuối chỉ làm lễ vật thờ cúng. Với người Pa Kô, cồng chiêng không thể tùy tiện vang lên, bởi mỗi âm thanh gắn với một sự kiện, nghi lễ hoặc mối quan hệ thiêng liêng nhất định. Khi bản làng tổ chức lễ cúng, lễ hội, tiếng cồng, tiếng chiêng, tiếng khèn cùng nhiều nhạc cụ truyền thống tạo nên không khí vui vẻ, sum họp và đầm ấm. Âm thanh ấy đồng thời kết nối con người với cộng đồng, người đã khuất, tổ tiên và thế giới thần linh, khiến những vật dụng bằng đồng trở thành ký ức sống. Già làng Kôn Bắt ở Tà Rụt hiện lưu giữ bốn chiếc chiêng và ba chiếc cồng, trong đó có những nhạc cụ từng được cha ông đổi bằng tài sản quý giá. Có chiếc được mua bằng một nén bạc trắng, có chiếc đổi bằng cả một con trâu đực, cho thấy giá trị đặc biệt của cồng chiêng trong đời sống xưa. Theo lời ông, tiếng chiêng là tiếng vọng của quá khứ giữa đại ngàn, nối quá khứ với hiện tại, tương lai, đồng thời giúp con người tìm về nguồn cội. Trong lễ A Riêu Ping, tiếng cồng chiêng vang lên giữa bản làng, làm không khí náo nhiệt hơn, để mọi người cùng nhảy múa theo phong tục cha ông truyền lại. Cồng chiêng đến các bản làng vùng cao qua những chuyến đi của thương nhân, vốn bắt nguồn từ các làng nghề đúc đồng truyền thống của người Kinh. Theo thời gian, những nhạc cụ ấy bước vào đời sống người Pa Kô, Vân Kiều, được cộng đồng tiếp nhận rồi sử dụng theo cách riêng của mình. Từ đó, cồng chiêng trở thành tiếng nói cộng đồng, khi gọi người dự hội, tiễn đưa người đã khuất, đón khách quý hoặc giao tiếp với thần linh, tổ tiên. Người trong cộng đồng có thể nghe nhịp chiêng và hiểu điều đang diễn ra, dù không cần lời giải thích dài dòng giữa không gian núi rừng rộng lớn. Tiếng chiêng vì vậy giống một thứ ngôn ngữ đặc biệt, lưu giữ phong tục, báo hiệu nghi lễ và làm cầu nối giữa nhiều thế giới tinh thần. Trong ký ức của các gia đình Vân Kiều, những người đã rời khỏi cuộc đời nhiều năm vẫn chưa thật sự biến mất khỏi mái nhà và dòng họ. Sau khi người thân được gửi lại nơi rừng ma, người sống không vào thăm mộ, nhưng nỗi nhớ vẫn được gìn giữ qua những nghi lễ được chuẩn bị đúng thời điểm. Có khi mười năm, có khi hai mươi năm sau, con cháu tổ chức lễ Ra-pứp giỗ, gọi người đã khuất trở về sum họp với gia đình. Ông Hồ Văn Pu ở Hướng Lập cho biết phần quan trọng của lễ Ra-pứp giỗ là mời gọi, chào đón linh hồn người đã khuất trở về. Trong khoảnh khắc ấy, tiếng trống và tiếng chiêng vang hối hả, ngân dài, đưa người đã khuất gặp lại thân nhân từng gắn bó khi còn sống. Khi nghi thức khép lại, tiếng chiêng lại cất lên trong cuộc chia tay, tiễn linh hồn trở về nơi yên nghỉ dưới những tán rừng già. Người Vân Kiều còn có lễ Ra-pứp khơi-cu-ya, nghi lễ được xem như chiếc chìa khóa mở sang những chặng đời mới cho gia đình và dòng họ. Tiếng chiêng trong lễ này chậm rãi, thong thả, nhẹ nhàng như ngày hội đoàn viên, trong khi những ràng buộc giữa các dòng họ vẫn chưa được tháo gỡ. Theo các già làng, từ lễ cưới, lễ Rađong đến lễ Ra-pứp, cồng chiêng nối người sống với tổ tiên, gọi họ hàng về chung mái nhà và kéo ký ức xa xôi trở lại.