Bỏ qua điều hướng
•

Trưởng phòng kinh doanh kiện công ty đòi 2,2 tỷ: Sự thật hợp đồng lương 70 triệu

Trưởng phòng kinh doanh kiện công ty đòi 2,2 tỷ: Sự thật hợp đồng lương 70 triệu
Nguồn ảnh: VietnamNet

Dựa vào hợp đồng ghi mức lương 70 triệu đồng/tháng, ông T. đòi công ty trả nợ lương và bồi thường hơn 2,2 tỷ đồng. Tòa án hai cấp đã chỉ ra điểm bất thường của bản hợp đồng này.

Hai hợp đồng, hai mức lương khác biệt

Ông Nguyễn Hữu T. (TPHCM) cho biết, ông và Công ty A. ký hợp đồng lao động số 20 ngày 3/7/2023. Hợp đồng ghi chức danh Trưởng phòng kinh doanh, không xác định thời hạn và mức lương 70 triệu đồng/tháng, trả bằng tiền mặt.

Theo ông T., khi bắt đầu làm việc, do tình hình kinh tế khó khăn, Công ty A. đề nghị chỉ trả trước một phần tiền lương tùy tình hình kinh doanh, số còn lại ghi nợ và sẽ quyết toán khi điều kiện ổn định. Tổng số tiền ông T. đã nhận từ doanh nghiệp là hơn 176,5 triệu đồng.

Ông T. cho hay ngày 23/4/2025, giám đốc công ty thông báo bằng miệng việc chấm dứt hợp đồng lao động của ông từ ngày 24/4/2025, yêu cầu ông bàn giao hồ sơ, máy tính và địa chỉ email. Sau đó, ông gửi email yêu cầu công ty cung cấp quyết định nghỉ việc, thanh toán tiền lương, phụ cấp còn nợ và giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội.

Ông T. không đồng ý ký quyết định sa thải mà công ty gửi email yêu cầu đến ký ngày 7/5/2025, cho rằng doanh nghiệp đã vi phạm quy trình xử lý kỷ luật lao động. Sau khi hòa giải tranh chấp lao động không thành ngày 20/5/2025, ông khởi kiện ra tòa.

W-tranh chap lao dong.jpg
Đòi 2,2 tỷ tiền lương và bồi thường, người lao động chỉ được tòa tuyên trả 19,4 triệu đồng. Ảnh minh họa: Nam Khánh

Ông T. yêu cầu chấm dứt hợp đồng lao động; thanh toán hơn 1,3 tỷ đồng tiền lương công ty còn nợ; trả tiền lương những ngày không được làm việc tính từ 24/4/2025 đến 8/1/2026 là 560 triệu đồng.

Đồng thời, ông đề nghị công ty bồi thường hai tháng tiền lương do chấm dứt hợp đồng trái pháp luật là 140 triệu đồng, hai tháng tiền lương do ông không muốn tiếp tục làm việc là 140 triệu đồng và 105 triệu tiền bồi thường do vi phạm nghĩa vụ báo trước 45 ngày. Tổng số tiền ông T. yêu cầu tính đến ngày 8/1/2026 là hơn 2,2 tỷ đồng.

Ngoài ra, công ty cần hoàn thành nghĩa vụ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đến ngày nghỉ việc và trả sổ bảo hiểm xã hội.

Công ty A. không chấp nhận các yêu cầu trên, cho rằng giữa hai bên có 2 hợp đồng lao động, nhưng chỉ hợp đồng số 0308 ký ngày 1/9/2023 được sử dụng trong quá trình làm việc thực tế. Theo hợp đồng số 0308, ông T. giữ chức danh tài xế, nhưng trên thực tế phụ trách mảng logistics - nhập khẩu.

Theo công ty, hợp đồng này ghi mức lương cơ bản 7 triệu đồng/tháng; thu nhập của ông T. còn có doanh số bán hàng và các khoản phụ cấp. Doanh nghiệp cho biết bảng lương, phiếu lương và chứng từ liên quan đều có chữ ký xác nhận của ông T.

Theo thống kê của doanh nghiệp, mức thu nhập thực tế trong 6 tháng gần nhất từ tháng 10/2024 đến tháng 3/2025 của ông T. trước khi nghỉ việc chưa đến 20 triệu đồng/tháng, chỉ có tháng 1/2025 là hơn 55,2 triệu đồng do có thêm tiền thưởng tháng 13 và 14.

Công ty A. giải thích hợp đồng ghi mức lương 70 triệu đồng/tháng được ký nhằm hỗ trợ ông T. làm thủ tục xin visa đi Đức, không phải hợp đồng được sử dụng để trả lương, kê khai thuế và đóng bảo hiểm xã hội. Doanh nghiệp cho rằng ông T. đã tự ý nghỉ việc, không đến làm việc liên tục mà không thông báo lý do, nên không có căn cứ yêu cầu bồi thường do bị đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.

Công ty thừa nhận còn tiền lương tháng 4/2025 chưa thanh toán là hơn 14,5 triệu đồng và đồng ý trả sổ bảo hiểm xã hội. Doanh nghiệp đồng thời có yêu cầu phản tố, đề nghị chấm dứt hợp đồng lao động kể từ ngày 1/7/2025.

Hai cấp tòa bác phần lớn yêu cầu của người lao động

Tại bản án sơ thẩm ngày 6/2/2026, TAND Khu vực 9, TPHCM chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông T., buộc Công ty A. trả 19,4 triệu đồng tiền lương tháng 4/2025 và trả sổ bảo hiểm xã hội. 

Tòa không chấp nhận yêu cầu đòi hơn 1,3 tỷ đồng tiền lương còn nợ. Tòa bác yêu cầu của ông T. về tiền lương những ngày không được làm việc là 663,4 triệu đồng; bồi thường 140 triệu đồng do chấm dứt hợp đồng trái luật, 140 triệu đồng do không muốn tiếp tục làm việc và 105 triệu đồng do vi phạm nghĩa vụ báo trước 45 ngày.

Tòa chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty A., tuyên hợp đồng lao động số 0308 chấm dứt từ ngày 1/7/2025; ghi nhận doanh nghiệp tự nguyện không yêu cầu ông T. bồi thường.

Không đồng ý, ông T. kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên phúc thẩm, TAND TPHCM xem xét các nội dung kháng cáo, trong đó có tranh chấp về hai hợp đồng lao động và mức lương thực tế của ông T.

HĐXX nhận định hồ sơ thể hiện việc kê khai thuế thu nhập cá nhân, đóng bảo hiểm xã hội và trả lương cho ông T. đều căn cứ hợp đồng số 0308 ngày 1/9/2023. Các bảng lương có chữ ký xác nhận của ông T. cho thấy thu nhập hàng tháng phần lớn chưa đến 20 triệu đồng; ông cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh công ty còn nợ hơn 1,3 tỷ đồng tiền lương.

Về việc chấm dứt hợp đồng, tòa phúc thẩm nhận định ông T. nghỉ việc liên tục 5 ngày không có lý do chính đáng, không thông báo là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật, vi phạm quy định Bộ luật lao động năm 2019.

Trong khi đó, không có chứng cứ cho thấy Công ty A. đã ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông. Văn bản ngày 5/5/2025 do bà Nguyễn Thị Mỹ N. ký và đóng dấu cũng không đủ căn cứ xác định đây là quyết định của công ty, bởi bà N. thừa nhận tự ban hành mà không được ủy quyền.

Từ những căn cứ trên, HĐXX cho rằng cấp sơ thẩm đã đánh giá chứng cứ toàn diện, giải quyết vụ án đúng quy định. Do ông T. không cung cấp thêm chứng cứ mới để chứng minh cho kháng cáo, tòa phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm. 

Theo đó, Công ty A. phải trả ông T. 19,4 triệu đồng tiền lương tháng 4/2025 và sổ bảo hiểm xã hội; các yêu cầu còn lại của ông bị bác.

(Bài viết dựa trên Bản án số 111/2026/LĐ-PT ngày 15/6/2026 của TAND TPHCM).

Vụ tranh chấp lao động giữa ông Nguyễn Hữu T. và Công ty A. tại TPHCM khởi nguồn từ sự tồn tại song song của hai bản hợp đồng với mức thù lao chênh lệch lớn. Ông T. viện dẫn hợp đồng số 20 ký ngày 3/7/2023 với chức danh Trưởng phòng kinh doanh cùng mức lương 70 triệu đồng/tháng để khởi kiện, đòi doanh nghiệp thanh toán nợ lương và các khoản bồi thường tổng cộng hơn 2,2 tỷ đồng. Nguyên đơn cho rằng việc giám đốc thông báo miệng chấm dứt công việc từ ngày 24/4/2025 là hành vi sa thải trái quy trình pháp luật. Phía doanh nghiệp bác bỏ toàn bộ yêu cầu khởi kiện và khẳng định hợp đồng lương 70 triệu đồng thực chất chỉ được lập nhằm hỗ trợ người lao động hoàn thiện hồ sơ xin visa đi Đức. Quan hệ lao động thực tế được thực hiện theo hợp đồng số 0308 ký ngày 1/9/2023 với chức danh tài xế, thực tế phụ trách mảng logistics và nhập khẩu với lương cơ bản 7 triệu đồng/tháng kèm phụ cấp và hoa hồng. Toàn bộ chứng từ thanh toán, bảng lương đều có chữ ký xác nhận của ông T., cho thấy thu nhập 6 tháng gần nhất trước khi nghỉ việc của nhân sự này thường dưới mức 20 triệu đồng mỗi tháng. Qua quá trình xét xử hai cấp, hội đồng xét xử đã làm rõ bản chất quan hệ việc làm dựa trên việc thực thi nghĩa vụ và chứng từ chi trả thực tế thay vì văn bản danh nghĩa. Tòa án bác bỏ yêu cầu đòi bồi thường hơn 2,2 tỷ đồng của ông T., chỉ chấp nhận buộc người sử dụng lao động thanh toán số tiền 19,4 triệu đồng theo đúng quyền lợi thực tế phát sinh. Phán quyết này nhấn mạnh nguyên tắc xét xử tranh chấp lao động dựa trên thực tế đóng bảo hiểm, nhận lương và thực hiện công việc, qua đó cảnh báo rủi ro pháp lý từ các thỏa thuận nâng khống thu nhập nhằm phục vụ mục đích cá nhân.
amung