Bỏ qua điều hướng

Truy xuất nguồn gốc theo phong trào, nhiều doanh nghiệp gắn mã QR “cho có”

Truy xuất nguồn gốc theo phong trào, nhiều doanh nghiệp gắn mã QR “cho có”
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Cầm chai rượu hay gói trà sâm Ngọc Linh trên tay nhưng chính lực lượng quản lý thị trường cũng không thể chỉ nhìn vào tem nhãn mà xác định được sản phẩm có thật là từ sâm Ngọc Linh hay không.

Ông Trần Hữu Linh - Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) nói như vậy tại tọa đàm “Truy xuất nguồn gốc - Lá chắn bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng”, tổ chức tại TPHCM chiều 9/9.

Theo ông Linh, truy xuất nguồn gốc đang được nói đến rất nhiều nhưng cách hiểu và cách triển khai giữa các doanh nghiệp còn khác nhau. Không ít doanh nghiệp vẫn coi đây đơn giản là việc dán tem hoặc gắn mã QR lên bao bì.

“Trong thời gian vừa qua, truy xuất nguồn gốc đôi khi trở thành một phong trào, sản phẩm cứ phải gắn một cái mã gì đó lên trên để nhìn vào có vẻ hiện đại”, ông Linh nói.

Đáng chú ý, qua thực tế mua và truy xuất một số sản phẩm như rượu, bánh kẹo, trái cây, ông Linh cho biết có trường hợp thông tin chỉ được sao chép, hoặc doanh nghiệp làm mang tính đối phó. Mã QR được đưa lên sản phẩm nhưng khi quét chỉ dẫn đến những thông tin rất cơ bản, không có nhiều giá trị.

Có QR code nhưng chưa chắc truy xuất được nguồn gốc

Theo ông Linh, QR code chỉ là phương tiện để đưa thông tin đến người tiêu dùng. Bản thân một sản phẩm có QR code không đồng nghĩa với việc sản phẩm đó đã có hệ thống truy xuất nguồn gốc.

Truy xuất nguồn gốc theo phong trào, nhiều doanh nghiệp gắn mã QR “cho có” - 1

Ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương, phát biểu tại tọa đàm (Ảnh: BTC).

Truy xuất nguồn gốc thực chất phải giúp doanh nghiệp quản lý được quá trình hình thành và lưu thông sản phẩm, từ nguyên liệu đầu vào, sản xuất đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng.

“QR code chỉ thực sự có ý nghĩa khi phía sau nó là một hệ thống dữ liệu được doanh nghiệp xây dựng và quản lý một cách minh bạch, có khả năng cung cấp thông tin về quá trình hình thành sản phẩm”, ông Linh nhấn mạnh.

Trong khi đó, hiện có những mã QR khi quét chỉ dẫn đến một trang giới thiệu sản phẩm hoặc thông tin quảng cáo. Thậm chí, có trường hợp mã không cung cấp được những dữ liệu quan trọng như nguyên liệu đến từ đâu, sản xuất khi nào, thuộc lô nào và đơn vị nào chịu trách nhiệm.

Điều này khiến việc truy xuất trở nên hình thức. Người tiêu dùng có thể nhìn thấy một sản phẩm được gắn mã QR và cảm thấy yên tâm hơn, nhưng lại không có đủ dữ liệu để kiểm chứng nguồn gốc thực sự.

Theo ông Linh, tình trạng này cũng gây khó cho lực lượng chức năng. Khi kiểm tra hàng hóa, nếu dữ liệu truy xuất không đầy đủ, cơ quan quản lý rất khó xác định hành trình của sản phẩm, nhất là với những mặt hàng liên quan trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng.

Đơn cử như rượu sâm Ngọc Linh. Hiện nay có nhiều sản phẩm quảng cáo là rượu sâm Ngọc Linh, nhưng nếu chỉ nhìn vào chai rượu, lực lượng quản lý thị trường không thể xác định sản phẩm có thực sự sử dụng sâm Ngọc Linh hay không.

“Muốn quản lý được thì phải có quy định và có cơ sở để xác định nguồn gốc, chất lượng của sản phẩm”, ông Linh nói.

Truy xuất thực chất phải bắt đầu từ dữ liệu

Từ góc độ doanh nghiệp cung cấp giải pháp, ông Phạm Văn Quân - Chủ tịch Công ty Cổ phần Công nghệ Checkee cho rằng truy xuất nguồn gốc trước hết phải định danh được sản phẩm. Sau đó là quản lý thông tin và theo dõi vòng đời sản phẩm từ sản xuất, lưu thông đến tay người tiêu dùng.

Truy xuất nguồn gốc theo phong trào, nhiều doanh nghiệp gắn mã QR “cho có” - 2

Theo các đại biểu, dữ liệu là nền tảng của hệ thống truy xuất nguồn gốc (Ảnh: BTC).

Theo ông Quân, dữ liệu là nền tảng của hệ thống truy xuất. Dữ liệu phải được lưu trữ theo quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia, bảo đảm tính thống nhất và có thể sử dụng, đối soát khi cần thiết.

“Truy xuất nguồn gốc không nên chỉ dừng lại ở việc có một mã để người tiêu dùng quét, mà quan trọng hơn là đằng sau mã đó phải có hệ thống dữ liệu đầy đủ, chính xác và phản ánh được vòng đời của sản phẩm”, ông Quân nói.

Trong khi đó, bà Hoàng Thị Thu Giang - Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đồ Uống Mới cho rằng, ngành rượu hiện vẫn là lĩnh vực có mức độ truy xuất nguồn gốc yếu. Khoảng 90% lượng rượu trên thị trường Việt Nam hiện nay chưa được xác định rõ nguồn gốc.

Bà Giang cho rằng, doanh nghiệp làm ăn chân chính cần được bảo vệ khi công khai nguồn nguyên liệu, quy trình sản xuất và thông tin sản phẩm. Ngược lại, những trường hợp cố tình làm hàng không rõ nguồn gốc cần bị xử lý nghiêm.

Liên quan đến hành lang pháp lý, ông Trần Hữu Linh cũng cho biết, Nhà nước đang từng bước hoàn thiện quy định về truy xuất nguồn gốc, trong đó xác định những nhóm sản phẩm bắt buộc phải thực hiện và những thông tin doanh nghiệp phải công khai.

Với những sản phẩm thuộc diện bắt buộc, cơ quan chức năng có thể kiểm tra phương tiện truy xuất trên sản phẩm, quét mã QR hoặc mã vạch để đối chiếu thông tin được cung cấp với các yêu cầu pháp luật.

Truy xuất nguồn gốc theo phong trào, nhiều doanh nghiệp gắn mã QR “cho có” - 3

Ông Trần Hữu Linh, Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước trải nghiệm công nghệ in tem truy xuất nguồn gốc của doanh nghiệp tại tọa đàm (Ảnh: Nam Bình).

Đây cũng là lý do doanh nghiệp cần chuẩn bị sớm, thay vì chờ đến khi quy định bắt buộc mới bắt đầu thực hiện.

Theo ông Linh, về lâu dài, xu hướng quản lý sản phẩm sẽ ngày càng gắn với định danh và dữ liệu số. Truy xuất nguồn gốc vì thế không nên được xem là 1 chiếc tem hay mã QR trên bao bì.

“Hiệu quả của truy xuất nguồn gốc xuất phát từ sự cam kết của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp thực sự muốn làm, muốn bảo vệ thương hiệu và sản phẩm của mình thì truy xuất nguồn gốc mới phát huy được giá trị”, ông Linh nhấn mạnh.

Tại tọa đàm “Truy xuất nguồn gốc - Lá chắn bảo vệ doanh nghiệp và người tiêu dùng” tổ chức ở TPHCM chiều 9/9, ông Trần Hữu Linh nêu thực trạng đáng chú ý của thị trường hiện nay. Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước thuộc Bộ Công Thương cho rằng truy xuất nguồn gốc được nhắc đến thường xuyên, nhưng cách hiểu và triển khai giữa các doanh nghiệp vẫn còn rất khác nhau. Theo thông tin Dân Trí đăng tải, không ít doanh nghiệp vẫn xem truy xuất nguồn gốc đơn giản là việc dán tem hoặc gắn mã QR lên bao bì sản phẩm. Ông Linh nhận xét truy xuất nguồn gốc đôi khi đã biến thành một phong trào, khi sản phẩm cứ phải gắn thêm một mã nào đó để tạo cảm giác hiện đại. Hình thức này có thể khiến bao bì bắt mắt hơn, nhưng không bảo đảm người mua thật sự biết sản phẩm được tạo ra từ đâu, qua những công đoạn nào. Qua việc mua và thử truy xuất một số mặt hàng như rượu, bánh kẹo, trái cây, ông Linh phát hiện có sản phẩm sử dụng thông tin sao chép hoặc thực hiện truy xuất mang tính đối phó. Nhiều mã QR vẫn xuất hiện rõ ràng trên sản phẩm, nhưng khi người tiêu dùng quét mã, kết quả chỉ là vài thông tin cơ bản, thậm chí thiếu những dữ liệu cần thiết. Một trang giới thiệu sản phẩm hoặc nội dung quảng cáo không thể thay thế hệ thống dữ liệu phản ánh đầy đủ quá trình hình thành hàng hóa. Vì vậy, sự hiện diện của mã QR chỉ cho thấy sản phẩm có một công cụ dẫn thông tin, chưa chứng minh hàng hóa đã được truy xuất nguồn gốc đúng nghĩa. Theo ông Trần Hữu Linh, mã QR chỉ là phương tiện đưa thông tin đến người tiêu dùng, còn giá trị thật sự phụ thuộc vào hệ thống dữ liệu đứng phía sau. Truy xuất nguồn gốc phải giúp doanh nghiệp quản lý được toàn bộ quá trình từ nguyên liệu đầu vào, sản xuất, lưu thông cho đến khi sản phẩm đến tay người mua. Một mã QR chỉ có ý nghĩa khi doanh nghiệp xây dựng, quản lý dữ liệu minh bạch, đồng thời có khả năng cung cấp thông tin đáng tin cậy về quá trình hình thành sản phẩm. Thực tế, một số mã QR hiện chỉ dẫn đến nội dung quảng bá, không cho biết nguyên liệu đến từ đâu, sản xuất vào thời điểm nào, thuộc lô hàng nào hoặc đơn vị nào chịu trách nhiệm. Những khoảng trống dữ liệu như vậy khiến hoạt động truy xuất trở nên hình thức, dù người tiêu dùng có thể cảm thấy yên tâm hơn khi nhìn thấy mã trên bao bì. Người mua tưởng như có thể kiểm chứng nguồn gốc, nhưng cuối cùng lại không đủ thông tin để đánh giá chất lượng và hành trình thật sự của sản phẩm. Tình trạng dữ liệu thiếu hoặc không đầy đủ cũng tạo thêm khó khăn cho lực lượng chức năng trong quá trình kiểm tra hàng hóa trên thị trường. Khi không thể lần theo hành trình sản phẩm, cơ quan quản lý khó xác định trách nhiệm, đặc biệt với những mặt hàng liên quan trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng. Ông Linh dẫn trường hợp rượu sâm Ngọc Linh, khi trên thị trường có nhiều sản phẩm quảng cáo mang tên này nhưng chỉ nhìn vào chai rượu thì không thể xác định có sử dụng đúng sâm Ngọc Linh hay không. Muốn quản lý những sản phẩm như vậy, cơ quan chức năng cần có quy định rõ ràng và cơ sở đủ tin cậy để xác định nguồn gốc, chất lượng hàng hóa. Ở góc độ doanh nghiệp cung cấp giải pháp, ông Phạm Văn Quân, Chủ tịch Công ty Cổ phần Công nghệ Checkee, cho rằng truy xuất trước hết phải định danh được sản phẩm. Sau bước định danh, doanh nghiệp cần quản lý thông tin và theo dõi vòng đời hàng hóa từ sản xuất, lưu thông cho tới khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Ông Quân nhấn mạnh dữ liệu là nền tảng của mọi hệ thống truy xuất nguồn gốc, nên phải được lưu trữ theo quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia, bảo đảm tính thống nhất và khả năng đối soát khi cần. Bà Hoàng Thị Thu Giang, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Đồ Uống Mới, cho biết ngành rượu hiện vẫn thuộc nhóm có mức độ truy xuất nguồn gốc yếu. Theo bà Giang, khoảng 90% lượng rượu trên thị trường Việt Nam hiện nay chưa được xác định rõ nguồn gốc, trong khi doanh nghiệp làm ăn chân chính cần được bảo vệ khi công khai nguyên liệu, quy trình sản xuất và thông tin sản phẩm.