Bỏ qua điều hướng
•

Từ đơn hàng 30 USD, vợ chồng Việt biến xơ mướp già thành hàng xuất khẩu

Từ đơn hàng 30 USD, vợ chồng Việt biến xơ mướp già thành hàng xuất khẩu
Nguồn ảnh: VietnamNet

Từ đơn hàng xuất khẩu đầu tiên trị giá 30 USD, vợ chồng anh Lê Nhất Vũ phát triển hơn 20 sản phẩm gia dụng từ xơ mướp, đưa hàng sang Mỹ, Hàn Quốc, Australia và Canada.

Khởi nghiệp từ quả mướp già

Khoảng năm 2018, anh Lê Nhất Vũ (SN 1986, phường Hòa Khánh, TP Đà Nẵng) cùng vợ là chị Võ Thị Ngọc Thư bắt đầu liên kết với nông dân, tận dụng xơ quả mướp ngọt để phát triển các sản phẩm gia dụng.

Khi đó, anh Vũ đang là kỹ sư, còn chị Thư là giảng viên tại một trường cao đẳng. Cả hai xuất thân từ gia đình nông dân nên muốn tìm một hướng kinh doanh gắn với nông nghiệp, tận dụng nguồn nguyên liệu trong nước.

“Chúng tôi muốn làm sản phẩm thân thiện với môi trường, có yếu tố Việt Nam để đưa ra nước ngoài, đồng thời tạo thêm đầu ra cho người nông dân”, anh Vũ chia sẻ.

W-1790596109829_2207419004224119097_7120242215142207307_f055a0db01225c62b8ff7e5b5f39cc2a.jpg
Vợ chồng anh Vũ biến những quả mướp già thành sản phẩm gia dụng xuất khẩu ra nước ngoài.

Theo anh Vũ, bài toán đầu tiên là nguyên liệu. Ban đầu, giống mướp thử nghiệm cho lượng xơ ít, chất lượng không đồng đều. Hai vợ chồng vừa thu mua mướp già của nông dân, vừa tìm giống phù hợp để lấy xơ.

Sau nhiều lần thử nghiệm, anh Vũ tìm được giống mướp cho lượng xơ lớn. Quả được để già khoảng 4 tháng rồi thu hoạch, sau đó bóc vỏ, giặt, phơi khô, xẻ lấy hạt, ép, cắt và may thành sản phẩm.

Năm 2022, chị Thư nghỉ việc để cùng chồng tập trung phát triển việc kinh doanh.

Theo chị Thư, xơ mướp có độ dai, tương đối mềm, nhanh khô và có khả năng hút dầu mỡ, phù hợp để làm một số vật dụng trong nhà bếp, nhà tắm.

Từ nguồn xơ mướp trước đây ít được khai thác, hai vợ chồng phát triển hơn 20 mẫu sản phẩm thuộc 4 nhóm: nhà bếp, nhà tắm, thời trang và trang trí, với giá bán từ 30.000 đến 500.000 đồng.

W-1790595928818_2207419004224119097_7120242215142207307_ace0f0cdf6b1435a1e742eeb677760db.jpg
Xơ từ những quả mướp già được biến thành các sản phẩm hữu ích như miếng rửa chén, bông tắm, dép... xuất khẩu sang nhiều thị trường.

Đơn hàng 30 USD và bài toán mở rộng thị trường

Ngay từ đầu, vợ chồng anh Vũ xác định ưu tiên thị trường nước ngoài, sau đó mới mở rộng trở lại thị trường trong nước. Khách hàng được tìm kiếm qua các hội nhóm nông nghiệp quốc tế, mạng xã hội và các chương trình xúc tiến thương mại.

Anh Vũ cho biết, đơn hàng xuất khẩu đầu tiên sang Mỹ chỉ khoảng 30 USD. Hai vợ chồng tự tìm cách gửi hàng và giao đến khách hoàn chỉnh nhất. Từ đơn hàng đầu tiên, sản phẩm từng bước tiếp cận thêm khách hàng và thị trường nước ngoài.

Đến nay, sản phẩm xơ mướp của doanh nghiệp đã được xuất sang Mỹ, Hàn Quốc, Australia, Canada... Đơn hàng lớn nhất cơ sở từng xuất sang Hàn Quốc có giá trị khoảng 2.000 USD. Tại thị trường trong nước, sản phẩm được phân phối cho một số khách sạn trên địa bàn Đà Nẵng và các gian hàng quà tặng tại điểm du lịch.

Doanh nghiệp cũng đang tìm kiếm cơ hội mở rộng sang thị trường châu Âu.

Anh Vũ cho biết khách hàng quốc tế yêu cầu cao về chất lượng, độ hoàn thiện và đóng gói. Vì vậy, mỗi đơn hàng cũng giúp vợ chồng anh điều chỉnh sản phẩm, từ chất lượng xơ đến thiết kế.

Để chủ động nguồn nguyên liệu, vợ chồng anh Vũ liên kết với nông dân tại nhiều địa phương, hỗ trợ giống, kỹ thuật và tổ chức thu mua mướp già.

Hơn 20 dòng sản phẩm được vợ chồng anh Vũ làm từ xơ mướp, chia thành 4 nhóm: sản phẩm nhà bếp, nhà tắm, thời trang và trang trí nhà cửa.

Hiện khoảng 50 hộ dân tại Đà Nẵng, Đắk Lắk, Yên Bái, Đồng Nai và một số địa phương khác tham gia mô hình, với tổng diện tích hơn 20ha.

Tại những vùng trồng lớn, anh Vũ hỗ trợ giống, kỹ thuật và ký hợp đồng liên kết thu mua. Mướp khô được thu mua theo kích thước, chất lượng, giá khoảng 2.000-12.000 đồng/quả.

Theo anh Vũ, cách làm này giúp tận dụng tối đa những quả mướp già, tưởng như đã bỏ đi. Người dân có thể bán mướp non làm thực phẩm, còn quả để già tiếp tục được thu mua lấy xơ.

“Tuy nhiên, phần lớn người dân liên kết với chúng tôi chọn không bán mướp non mà bán mướp già để có thu nhập ổn định. Chúng tôi muốn mở rộng vùng trồng, cùng bà con tạo ra sản phẩm và chia sẻ lợi nhuận. Khi đầu ra ổn định, người dân cũng yên tâm hơn với vùng nguyên liệu”, anh Vũ chia sẻ.

Cơ sở hiện tạo việc làm thường xuyên cho 10 lao động, với thu nhập khoảng 8-12 triệu đồng/người/tháng. Khi có đơn hàng lớn, doanh nghiệp thuê thêm lao động địa phương làm thời vụ.

Thời gian tới, vợ chồng anh Vũ dự định mở rộng diện tích liên kết, tăng số hộ tham gia và phát triển thêm sản phẩm từ xơ mướp. Mục tiêu là xây dựng vùng nguyên liệu đủ lớn, đáp ứng yêu cầu về chất lượng và sản lượng của các đơn hàng xuất khẩu.

Khoảng năm 2018, khi còn làm kỹ sư, anh Lê Nhất Vũ cùng vợ là chị Võ Thị Ngọc Thư bắt đầu tìm cách biến xơ mướp già thành sản phẩm gia dụng. Xuất thân từ gia đình nông dân, hai vợ chồng muốn khởi nghiệp bằng nguyên liệu trong nước, vừa tạo sản phẩm thân thiện với môi trường, vừa mở thêm đầu ra cho người trồng. Ý tưởng nghe mộc mạc, nhưng để quả mướp già có thể bước vào căn bếp hay phòng tắm của khách hàng, họ phải giải quyết trước tiên bài toán nguyên liệu. Những giống mướp thử nghiệm ban đầu cho ít xơ, chất lượng lại không đồng đều, nên anh Vũ và chị Thư vừa thu mua quả già của nông dân, vừa tiếp tục tìm giống phù hợp. Sau nhiều lần thử, anh Vũ chọn được giống cho lượng xơ lớn; mướp được để già khoảng bốn tháng rồi mới thu hoạch để chế biến. Từ quả mướp, họ bóc vỏ, giặt, phơi khô, lấy hạt, ép, cắt và may, từng bước tạo nên những món đồ thiết thực thay vì bỏ phí phần xơ. Theo chị Thư, xơ mướp dai, tương đối mềm, nhanh khô và có khả năng hút dầu mỡ, nên phù hợp với một số vật dụng nhà bếp, nhà tắm. Từ nguyên liệu trước đây ít được khai thác, vợ chồng chị phát triển hơn 20 mẫu sản phẩm, chia thành bốn nhóm gồm nhà bếp, nhà tắm, thời trang và trang trí. Các sản phẩm như miếng rửa chén, bông tắm hay dép có giá từ 30.000 đến 500.000 đồng, cho thấy xơ mướp có thể đi xa hơn hình ảnh vật liệu bỏ đi. Ban đầu, hai vợ chồng ưu tiên tìm khách hàng nước ngoài rồi mới tính chuyện mở rộng ở thị trường trong nước, thông qua hội nhóm nông nghiệp quốc tế, mạng xã hội và chương trình xúc tiến thương mại. Cơ hội xuất khẩu đầu tiên đến với đơn hàng sang Mỹ trị giá khoảng 30 USD, nhỏ về giá trị nhưng đủ để họ tự lo từng khâu gửi hàng. Anh Vũ cho biết hai người tìm cách đưa sản phẩm đến khách hoàn chỉnh nhất, rồi dần dùng kinh nghiệm từ đơn hàng đầu tiên để tiếp cận thêm khách hàng. Đến nay, sản phẩm xơ mướp của cơ sở đã được xuất sang Mỹ, Hàn Quốc, Australia và Canada, còn đơn hàng lớn nhất từng gửi sang Hàn Quốc trị giá khoảng 2.000 USD. Trong nước, sản phẩm được phân phối cho một số khách sạn tại Đà Nẵng và các gian hàng quà tặng ở điểm du lịch. Vợ chồng anh Vũ cũng tìm cơ hội sang châu Âu, trong khi mỗi đơn hàng quốc tế giúp họ điều chỉnh chất lượng xơ, thiết kế và cách đóng gói. Để có nguyên liệu ổn định, vợ chồng anh Vũ liên kết với nông dân ở nhiều địa phương, hỗ trợ giống, kỹ thuật và tổ chức thu mua mướp già. Mô hình hiện có khoảng 50 hộ tại Đà Nẵng, Đắk Lắk, Yên Bái, Đồng Nai cùng một số nơi khác tham gia, với tổng diện tích hơn 20ha. Tại những vùng trồng lớn, anh Vũ hỗ trợ kỹ thuật và ký hợp đồng thu mua, còn giá mướp khô dao động khoảng 2.000 đến 12.000 đồng mỗi quả tùy kích thước, chất lượng. Cách làm này giúp người dân có thể bán mướp non làm thực phẩm, rồi giữ quả già để bán lấy xơ, tận dụng thêm nguồn thu từ vườn trồng. Anh Vũ cho biết phần lớn hộ liên kết chọn bán mướp già để có thu nhập ổn định, đồng thời mong muốn mở rộng vùng trồng và chia sẻ lợi nhuận. Khi có đầu ra ổn định, người dân có thêm cơ sở để yên tâm duy trì vùng nguyên liệu, còn cơ sở sản xuất chủ động hơn về nguồn xơ. Hiện cơ sở tạo việc làm thường xuyên cho 10 lao động, với thu nhập khoảng 8 đến 12 triệu đồng mỗi người mỗi tháng, và thuê thêm lao động địa phương khi có đơn hàng lớn. Năm 2022, chị Thư nghỉ công việc giảng viên để cùng chồng tập trung phát triển hoạt động kinh doanh từ xơ mướp. Từ đơn hàng đầu tiên chỉ khoảng 30 USD đến những thị trường xuất khẩu hiện nay, hành trình của họ gắn với nỗ lực hoàn thiện sản phẩm và xây dựng vùng nguyên liệu cùng nông dân.