Phát triển khu công nghiệp (KCN) là hướng đi quan trọng để thu hút đầu tư, mở rộng sản xuất và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên có nhiều lợi thế, nhưng trước yêu cầu tăng trưởng cao trong giai đoạn mới, thu hút nhiều dự án hay mở rộng diện tích đất công nghiệp chưa đủ để đánh giá hiệu quả của KCN. Điều quan trọng hơn là các dự án có đi vào sản xuất hay không, tạo ra bao nhiêu việc làm và đóng góp thế nào cho nền kinh tế địa phương.
Bức tranh phát triển nhiều khác biệt
Tại Khánh Hòa, Khu kinh tế (KKT) Vân Phong và hệ thống KCN giữ vai trò quan trọng trong thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp gắn với kinh tế biển. Đến cuối năm 2025, KKT Vân Phong và các KCN có 193 dự án đi vào hoạt động. Doanh thu đạt 2,3 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,3 tỷ USD.
Trong năm 2026, UBND tỉnh Gia Lai giao chỉ tiêu thu hút đầu tư 7 KCN còn dư địa đầu tư với tổng số dự án là 57 dự án, tổng vốn đầu tư tối thiểu 31.500 tỷ đồng. Tuy nhiên, kết quả 9 tháng năm 2026, 7 KCN thu hút mới được 12 dự án, đạt tỷ lệ 21% chỉ tiêu; tổng vốn đầu tư đăng ký 3.132 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 10% chỉ tiêu.
Tại Lâm Đồng, theo báo cáo của Ban Quản lý các KCN tỉnh, tính đến tháng 8/2026, toàn tỉnh có 14 KCN đã được thành lập và đi vào hoạt động, với tổng diện tích 4.227,62 ha. Trong đó, 10/14 KCN đã thu hút nhà đầu tư thứ cấp, diện tích đất cho thuê lại đạt 759,93/1.338,97 ha, tỷ lệ lấp đầy bình quân 56,75%.
Những số liệu trên cho thấy quy mô thu hút đầu tư và kết quả hoạt động giữa các địa phương có sự khác biệt. Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ hiệu quả của từng KCN, cần xem xét đồng thời tình hình triển khai dự án và kết quả sản xuất, kinh doanh.
Tại buổi làm việc với các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng KCN mới đây, Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai Phạm Anh Tuấn nhấn mạnh tỉnh đặt nhiều kỳ vọng vào hệ thống KCN, cụm công nghiệp như động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số trong năm 2026.
Chuyển vốn đầu tư thành giá trị kinh tế
Thu hút được dự án mới là bước đầu trong quá trình phát triển KCN. Tỷ lệ lấp đầy cao cũng chưa đồng nghĩa với hiệu quả kinh tế tương xứng. Sau khi thuê đất, doanh nghiệp có thể cần thêm thời gian để hoàn thiện thủ tục, xây dựng nhà xưởng và lắp đặt thiết bị. Vì vậy, số dự án còn hiệu lực không đồng nghĩa với số nhà máy đang sản xuất.
Ngay cả khi đã đi vào hoạt động, hiệu quả của mỗi dự án cũng khác nhau. Kết quả phụ thuộc vào quy mô sản xuất, mức sử dụng công suất, số lao động và khả năng tiêu thụ sản phẩm.
Do đó, đánh giá hiệu quả KCN cần dựa trên nhiều chỉ tiêu. Ngoài vốn đăng ký và tỷ lệ lấp đầy, cần theo dõi vốn thực hiện, số dự án đang hoạt động, doanh thu, giá trị sản xuất công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu, việc làm và đóng góp ngân sách.
Những dữ liệu này giúp xác định rõ hơn nguồn lực đầu tư đã chuyển hóa thành kết quả kinh tế đến đâu. Qua đó, các địa phương có thể nhận diện những khâu còn hạn chế để điều chỉnh chính sách.
Với Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, hiệu quả phát triển KCN còn phụ thuộc vào khả năng liên kết vùng. Khu vực cao nguyên có lợi thế về nguyên liệu nông, lâm sản. Khu vực ven biển có hệ thống giao thông và cảng biển phục vụ vận chuyển hàng hóa. Nếu được kết nối hiệu quả, hai khu vực có thể bổ trợ cho nhau trong chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm.
Để khai thác lợi thế này, phát triển KCN cần gắn với đầu tư hạ tầng, đào tạo nhân lực và mở rộng thị trường. Đồng thời, cần tạo điều kiện để doanh nghiệp địa phương tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất, cung ứng.
Một hệ thống dữ liệu thống nhất sẽ hỗ trợ quá trình đánh giá. Dữ liệu cần phân biệt rõ KCN, KKT và cụm công nghiệp. Tình trạng triển khai dự án và kết quả hoạt động cũng cần được cập nhật theo cùng kỳ báo cáo. Đây là cơ sở để các địa phương so sánh, xác định hạn chế và nâng cao hiệu quả quản lý.
Trong giai đoạn tăng trưởng mới, mở rộng thu hút đầu tư vẫn là nhiệm vụ quan trọng. Nhưng mục tiêu cuối cùng, các KCN cần tạo ra năng lực sản xuất, việc làm và giá trị kinh tế thực chất. Đây là cơ sở để Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên phát huy lợi thế của từng địa phương, tăng cường liên kết vùng và tạo động lực tăng trưởng bền vững.
Phát triển các khu - cụm công nghiệp
Đánh giá đúng chất lượng dự án và năng lực triển khai
Tùy Anh