Hà Nội đem lại nhiều cảm xúc đẹp đẽ cho sáng tạo nghệ thuật
- Thưa nhà thơ Bằng Việt, từng nhiều năm là thành viên Ban giám khảo Giải thưởng Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội và năm nay, đón nhận Giải thưởng Lớn, cảm xúc của ông chắc hẳn rất đặc biệt?
- Tôi rất bất ngờ và cảm động. Vì đã từng được giữ trách nhiệm Giám khảo cho Giải thưởng Bùi Xuân Phái từ khi thành lập Giải thưởng này nên tôi rất trân trọng ý nghĩa xã hội của Giải thưởng.
Hà Nội đem lại cho tôi nhiều cảm xúc sâu sắc, đẹp đẽ trong nhận thức và sáng tạo nghệ thuật. Bản thân tôi được hưởng rất nhiều ân sủng mà Hà Nội đã dành cho. Về phần mình, tôi luôn nỗ lực phấn đấu, mong phần nào đền đáp nghĩa tình đó. Nếu không có mọi trải nghiệm phong phú từ hơn 60 năm qua với mảnh đất và con người Hà Nội, thì cũng không thể có được bản thân tôi ngày hôm nay.
- Giải thưởng còn là động lực tinh thần lớn để ông tiếp tục cho ra đời nhiều tác phẩm văn chương mới, thưa ông?
- Tôi hiện đã ở tuổi ngoài 80, điều kiện sức khỏe không như trước nhưng tôi sẽ dành đủ 100% tâm sức cho một số công trình riêng, đã lên kế hoạch từ lâu.
Theo dự định, trong hai năm tới, tôi sẽ hoàn thành sắp xếp và biên tập một tuyển tập thơ của bản thân, bao gồm các bài thơ đã xuất bản trong sách, báo, tạp chí kể từ năm 2026 trở về trước và một số bài chưa từng công bố rộng rãi, mới ở trong sổ tay, cần được chỉnh lại câu chữ, bố cục.
Tôi cũng có kế hoạch thực hiện một tổng tập thơ dịch, gồm khoảng 400 bài của hơn 180 tác giả thế giới mà tôi đã dịch trong nhiều năm qua, từ ba thứ tiếng Anh, Pháp, Nga. Việc này có thể xong trong cuối năm 2027.
Còn năm nay, tôi sẽ cho ra mắt tập thơ mới, gồm 123 bài thơ ngắn, lấy tên là Tâm - Nghiệm - Ngộ. Hưởng ứng các quyết sách của Đảng và Nhà nước về thúc đẩy quảng bá văn hóa dân tộc ra nước ngoài, đưa sách Việt Nam tiếp cận thị trường sách quốc tế, tôi quyết tâm tự dịch tập thơ mới nhất này của mình ra một số ngoại ngữ phổ biến, như các thứ tiếng Anh, Pháp, Nga, để có thể phát hành tại các hội chợ sách quốc tế, nơi mà Hà Nội, với tư cách là một thành phố sáng tạo, luôn được mời tham dự, trưng bày, giới thiệu sách và văn hóa phẩm. Trong tập thơ mới này, tôi ưu tiên chọn những bài ngắn dưới 10 câu, nên việc dịch ra nhiều thứ tiếng cũng thuận lợi hơn. Vả lại, trong xu thế hiện nay, người đọc cũng không thích đọc thơ dài.
- Nhiều người có lẽ không biết ông có vốn ngoại ngữ lớn như vậy.
- Các nhà thơ thời chống Pháp, nhất là các nhà thơ xuất hiện từ tiền chiến, đều rất giỏi tiếng Pháp và chữ Hán. Họ dịch nhiều thơ Đường, cũng như thơ phương Tây, thơ châu Phi, Mỹ La-tinh... thông qua tiếng Pháp.
Thế hệ tác giả văn chương thời chống Mỹ chúng tôi trải qua chiến tranh khốc liệt kéo dài, cũng bị ảnh hưởng nhiều đến khả năng ngoại ngữ. Nhưng có một số người vẫn kiên trì học ngoại ngữ, nhất là sau năm 1975, nên cũng khá lên nhiều. Vì chúng tôi biết, cần phải có kiến thức trong việc mở ra các cửa sổ đối thoại, mới hiểu biết được thế giới, nắm được các xu thế đổi mới của thế giới. Văn nghệ sĩ, nếu chỉ quanh quẩn giao tiếp chật hẹp, “không chịu ra khỏi lũy tre làng”, thì kiến thức bị hạn chế, khả năng nâng cao, đổi mới năng lực sáng tạo bị cạn dần.
Tôi đã có 50 năm đọc và dịch thơ nước ngoài. Đặc biệt, trong 10 năm gần đây, sau khi nghỉ hưu, tôi tập trung vào việc rèn luyện kỹ năng dịch ngược (dịch từ tiếng Việt sang các ngôn ngữ khác - PV).
Nhà thơ không nên ngồi trên tháp ngà, mà hãy lội vào bùn đất cùng người lao động
- Trở lại với thi ca, thưa ông, thơ của Bằng Việt bây giờ và Bằng Việt thời “Bếp lửa” 60 năm trước hẳn cũng có nhiều đổi thay khác biệt?
- Chắc hẳn rồi, cách viết của tôi có thay đổi nhiều. Trước đây, tôi có lúc ham miêu tả, trần thuật, ham diễn giải, triết lý, hay rơi vào tư biện, nặng tư duy chính luận. Giờ, tôi không thể viết triền miên dàn trải mà phải ngắn gọn, hàm súc, chỉ gọi sự vật đúng tên của nó, không ví von thừa thãi.
- Nhân ông nói về bạn đọc hiện nay không thích đọc thơ dài, ông có thể chia sẻ thêm quan điểm về thực tế khác: Lâu nay, có nhiều ý kiến về việc độc giả quay lưng với văn chương, không đọc văn thơ nữa?
- Tôi nghĩ hiện tượng này cũng có lỗi từ cả hai phía. Một bên, xã hội đang chuyển biến rất nhanh, công chúng đang có quá nhiều lựa chọn hấp dẫn. Sự bùng nổ của Internet, mạng xã hội lôi kéo công chúng ra khỏi cách đọc chậm, đọc kỹ.
Trong khi đó, phía bên kia, người sáng tác lại chưa có tác phẩm hấp dẫn bạn đọc. Nhà văn cần có đủ ý thức để viết những vấn đề cần cho con người hôm nay.
Trước kia, thơ của tôi thường được xếp vào loại văn chương sang trọng. Nhưng tôi nhận ra, thơ đâu nhất thiết phải cao sang, quý tộc, mà cần đi cả vào giữa bùn đất, bụi bặm đường phố, khói đạn,
hơi bom.
Nhà thơ không nên ngồi trên tháp ngà, mà hãy lội vào bùn đất cùng người lao động. Cảm xúc thơ, hãy dám đưa vào chuyện đời thường, những cam go vất vả của người lao động trong công xưởng, người lính trong chiến hào. Tất cả những điều đó đều đã là sự chuyển hóa tự nhiên từ mấy chục năm nay rồi...
Tuy nhiên, tới dăm năm gần đây, tôi lại thấy có điều đáng ngại: Người ta mượn xu thế “đổi mới”, “hội nhập”, thậm chí cả “tân hình thức” rồi “hậu hiện đại”, để nhét vào thơ rất nhiều thứ “không tiêu hóa được”; điển hình là sự tầm thường đến thảm hại, sự tự nhiên chủ nghĩa đến trơ trẽn, kết quả là sản sinh ra một thứ văn vần theo “chủ nghĩa dung tục”. Đó không còn là ngôn ngữ đường phố, bùn đất - với ý nghĩa gần đời sống lao động, cũng không gần với hơi thở thô tháp, cách cảm nghĩ thẳng băng, không cách điệu, không uốn éo, tuy có thô mộc, có chai sạn, thì nó vẫn còn có chất người, có vị đắng mồ hôi, vị mặn nước mắt của con người.
- Sau nhiều năm làm lãnh đạo Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội, theo ông, làm thế nào để các hội hỗ trợ hiệu quả cho văn học nghệ thuật phát triển?
- Nhà nước cần tiếp sức cho giới sáng tác bằng nhiều chính sách và giải pháp hiệu quả hơn. Thay vì cấp kinh phí nhỏ giọt cho các hội văn học nghệ thuật, Nhà nước cũng cần xem xét lại phương án đầu tư lớn, bằng cách ký hợp đồng theo thỏa thuận, như đã từng làm những năm trước đây, nhất là hiện nay, có chính sách mới, hỗ trợ cho công nghiệp văn hóa nữa.
Ngoài ra, cần tạo điều kiện hỗ trợ để xuất bản, phổ biến tác phẩm, thêm kinh phí lập các giải thưởng văn học nghệ thuật, tôn vinh tác phẩm nào đi đúng được vào những vấn đề cốt lõi, trọng tâm của đời sống, làm văn học nghệ thuật bám rễ sâu hơn vào đời sống. Mặt khác, cần tạo điều kiện để việc trao đổi kinh nghiệm văn hóa đối ngoại nói chung, trao đổi với các tổ chức văn học nghệ thuật quốc tế nói riêng được diễn ra thường xuyên, thực chất hơn.
- Hơn nửa thế kỷ sáng tác và gắn bó với đời sống văn học, hẳn ông có rất nhiều “những điều trông thấy” và suy ngẫm về văn chương, về cuộc đời. Ông có ý định ra mắt hồi ký văn chương không, thưa ông?
- Tôi dự định in một hồi ký văn chương gắn với sinh hoạt văn học, quan điểm sáng tác cũng như đời sống tinh thần của các nhà văn.
Đây không phải dạng hồi ký “có gì ghi nấy”, hay cốt kể lại đời mình, mà tôi lựa chọn từ kho chuyện về văn thơ, về các thế hệ nhà văn quen biết những gì mà tôi thấy là có ích cho cộng đồng, cho văn chương, rồi cộng cả những suy nghĩ của mình qua 50-60 năm sáng tác nữa. Biết đâu, những điều ấy sẽ có ích cho văn chương, bạn đọc yêu văn học, và người nghiên cứu văn chương sau này.
- Trân trọng cảm ơn ông! ■
KHÁNH PHƯƠNG
(thực hiện)