Bỏ qua điều hướng

Văn hóa - nền tảng quan trọng của công tác đại đoàn kết đối với người Việt Nam ở nước ngoài

Văn hóa - nền tảng quan trọng của công tác đại đoàn kết đối với người Việt Nam ở nước ngoài
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Sự ra đời của Nghị quyết số 23-NQ/TW tiếp tục thể hiện sự quan tâm sâu sắc, nhất quán của Đảng, Nhà nước đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời mở ra những định hướng mới để phát huy mạnh mẽ hơn nguồn lực, vai trò và trách nhiệm của kiều bào trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đ...

Là một người Việt Nam đã nhiều năm sinh sống, làm việc và tham gia các hoạt động cộng đồng tại Nhật Bản, ông Nguyễn Duy Anh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Nhật Bản - Tổng Thư ký Mạng lưới Giảng dạy tiếng Việt và gìn giữ văn hóa Việt Nam toàn cầu bày tỏ xúc động và tự hào khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Theo ông Nguyễn Duy Anh, từ Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19/5/2015 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới, Kết luận số 12-KL/TW ngày 12/8/2021 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới đến Nghị quyết số 23-NQ/TW hôm nay, có thể nhìn thấy một quá trình kế thừa và phát triển nhất quán trong tư duy về công tác người Việt Nam ở nước ngoài: cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Ông Nguyễn Duy Anh chia sẻ, đối với những người đang trực tiếp làm công tác cộng đồng ở nước ngoài, đây không chỉ là một chủ trương lớn mà còn đem lại một cảm nhận rất rõ ràng: dù sinh sống ở đâu, mỗi người Việt Nam vẫn luôn có một vị trí trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đều có cơ hội đóng góp cho quê hương.

Văn hóa và tiếng Việt - điểm nhấn đặc biệt có ý nghĩa lâu dài

Đối với ông Nguyễn Duy Anh, trong nhiều nội dung quan trọng của Nghị quyết 23, những định hướng về gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là đối với thế hệ trẻ là lĩnh vực ông đặc biệt quan tâm.

Từ thực tiễn nhiều năm sinh sống ở Nhật Bản và quá trình kết nối với các cộng đồng người Việt tại nhiều quốc gia, ông Nguyễn Duy Anh cho rằng, đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược và lâu dài.

duyanh2.jpg
Ông Nguyễn Duy Anh (thứ 2 từ phải sang) tích cực tham gia vào các hoạt động của sự kiện Việt Nam Day 2026 tại Kyushu - Okinawa với chủ đề "Khám phá Việt Nam - Kết nối Kyushu". (Ảnh do nhân vật cung cấp)

Thế hệ người Việt Nam đầu tiên ra nước ngoài thường mang theo tiếng Việt, ký ức về quê hương và những phong tục được hình thành từ nhỏ. Nhưng sang thế hệ thứ hai, thứ ba, hoàn cảnh đã khác.

Viện dẫn cho vấn đề này, ông Nguyễn Duy Anh cho biết, một em bé sinh ra tại Nhật Bản sẽ học tập bằng tiếng Nhật, giao tiếp với bạn bè bằng tiếng Nhật và tiếp nhận phần lớn đời sống xã hội bằng tiếng Nhật. Điều tương tự diễn ra với trẻ em Việt Nam sinh ra tại Pháp, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Australia hay nhiều quốc gia khác.

Các em có thể biết mình là người gốc Việt, nhưng nếu không còn ngôn ngữ để trò chuyện sâu sắc với ông bà, không hiểu những câu chuyện của gia đình, không biết nhiều về lịch sử, phong tục và văn hóa Việt Nam, sự kết nối với quê hương có thể dần trở nên xa hơn. Bởi vậy, giữ tiếng Việt không đơn thuần là giữ một ngôn ngữ. Đó là giữ một con đường trở về với cội nguồn.

“Một đứa trẻ còn nói được tiếng Việt sẽ còn có thể trò chuyện với ông bà. Còn hiểu lời ru, câu ca dao, ngày Tết, Giỗ Tổ Hùng Vương, áo dài, món ăn Việt và những câu chuyện lịch sử của dân tộc thì trong tâm thức của em vẫn có một không gian dành cho Việt Nam. Ở chiều ngược lại, khi một người trẻ hiểu và tự hào về nguồn gốc của mình, họ có thể trở thành một cầu nối rất tự nhiên giữa Việt Nam và xã hội sở tại”, ông Nguyễn Duy Anh chia sẻ.

duyanh4.jpg
Ông Nguyễn Duy Anh nhận chứng chỉ tốt nghiệp Khóa tập huấn phương pháp giảng dạy tiếng Việt cho giáo viên người Việt Nam ở nước ngoài năm 2026. (Ảnh do nhân vật cung cấp)

Theo ông Nguyễn Duy Anh, việc đặt văn hóa và tiếng Việt trong tổng thể công tác người Việt Nam ở nước ngoài có giá trị sâu sắc bởi văn hóa không chỉ giúp cộng đồng hướng về quê hương mà còn tạo nên sức mạnh mềm để Việt Nam kết nối với thế giới.

Từ lớp học tiếng Việt đến một không gian văn hóa Việt Nam toàn cầu

Chia sẻ về quá trình xây dựng và hình thành Mạng lưới Giảng dạy tiếng Việt và Gìn giữ văn hóa Việt Nam toàn cầu, ông Nguyễn Duy Anh cho biết, mạng lưới được thành lập với mong muốn kết nối những người đang âm thầm làm công việc giữ tiếng Việt ở nhiều quốc gia.

Chỉ sau một năm hoạt động, mạng lưới đã tổ chức các khóa tập huấn trực tuyến cho hơn 500 học viên tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ, đồng thời triển khai các chương trình tập huấn, tọa đàm trực tiếp tại Lào, Thái Lan, Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc.

“Nhiều thầy cô tham gia mạng lưới không phải lúc nào cũng có điều kiện chuyên môn đầy đủ, nhiều người có công việc riêng nhưng cuối tuần vẫn đứng lớp; nhiều phụ huynh sau một tuần làm việc vẫn dành thời gian đưa con đi học tiếng Việt. Điểm chung của họ là một mong muốn rất giản dị, đó là con em mình lớn lên ở nước ngoài nhưng không mất tiếng Việt, không xa rời cội nguồn Việt Nam”, ông Nguyễn Duy Anh cho biết.

Từ thực tiễn ấy, Mạng lưới Giảng dạy tiếng Việt và Gìn giữ văn hóa Việt Nam toàn cầu xác định không thể chỉ dạy tiếng Việt trong phạm vi lớp học. Với trẻ em sinh ra ở nước ngoài, tiếng Việt phải được gắn với trải nghiệm, niềm vui và sự tự hào.

duyanh3-3895.jpg
Các học viên khóa Khóa tập huấn phương pháp giảng dạy tiếng Việt cho giáo viên người Việt Nam ở nước ngoài năm 2026 chụp ảnh kỷ niệm tại lễ bế giảng. (Ảnh do nhân vật cung cấp)

Bên cạnh hoạt động đào tạo giáo viên, mạng lưới từng bước đưa tiếng Việt vào các chương trình giao lưu, nghệ thuật, trình diễn áo dài, hùng biện và các sân chơi dành cho thanh thiếu nhi. Việc phối hợp xây dựng và ra mắt bộ sách “Vui học tiếng Việt” gồm hai quyển cũng xuất phát từ tinh thần đó: giúp trẻ tiếp cận tiếng Việt theo cách gần gũi hơn, gắn việc học ngôn ngữ với tìm hiểu văn hóa.

Khi văn hóa trở thành sức mạnh gắn kết cộng đồng

Theo ông Nguyễn Duy Anh, tinh thần mà Nghị quyết 23 đặt ra liên tưởng rất rõ đến những hoạt động cộng đồng đã được triển khai trong thời gian qua, đặc biệt là Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó có cộng đồng người Việt Nam tại Kyushu, Nhật Bản.

Ở trong nước, Ngày hội Đại đoàn kết đã trở thành một nét đẹp trong đời sống cộng đồng. Nhưng khi được tổ chức ở nước ngoài, hai chữ “đại đoàn kết” có thêm một ý nghĩa đặc biệt.

Người Việt có thể đến từ những vùng miền khác nhau, làm những nghề nghiệp khác nhau, thuộc những thế hệ khác nhau và có thời gian sinh sống tại Nhật Bản khác nhau. Nhưng trong không gian của Ngày hội, tất cả gặp nhau ở một điểm chung vì chúng ta là người Việt Nam.Và điều kết nối mọi người tự nhiên nhất chính là văn hóa.

“Một tà áo dài, một món ăn quê hương, một bài hát tiếng Việt, một trò chơi dân gian hay tiếng trẻ em gọi nhau bằng tiếng Việt đôi khi có sức mạnh gắn kết hơn rất nhiều lời kêu gọi. Đó cũng là lý do tôi cho rằng văn hóa phải được nhìn nhận như một trong những nền tảng quan trọng của công tác đại đoàn kết đối với người Việt Nam ở nước ngoài”, ông Nguyễn Duy Anh nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Duy Anh cho rằng, thông qua các hoạt động cộng đồng, văn hóa giúp người Việt tìm thấy nhau; qua tiếng Việt, các thế hệ có thể hiểu nhau; và từ sự gắn kết đó, chúng ta hình thành một cộng đồng đoàn kết, có trách nhiệm với xã hội sở tại nhưng vẫn luôn hướng về quê hương.

Từ tinh thần của Nghị quyết 23, ông Nguyễn Duy Anh đặc biệt kỳ vọng,chúng ta không chỉ gìn giữ văn hóa Việt Nam trong cộng đồng mà còn đưa văn hóa Việt Nam đến gần hơn với bạn bè quốc tế. Theo ông Nguyễn Duy Anh, người Việt Nam ở nước ngoài có một lợi thế rất đặc biệt. Chúng ta hiểu văn hóa Việt Nam, đồng thời sống trong môi trường văn hóa của nước sở tại. Vì vậy, mỗi kiều bào có thể trở thành một “đại sứ văn hóa” theo cách của riêng mình.

Cụ thể, một doanh nhân có thể giới thiệu sản phẩm Việt Nam. Một giáo viên có thể dạy tiếng Việt và kể câu chuyện Việt Nam. Một đầu bếp có thể giới thiệu ẩm thực. Một nghệ sĩ có thể đưa âm nhạc, áo dài và nghệ thuật Việt Nam đến công chúng quốc tế. Một người trẻ có thể làm một video bằng ngôn ngữ sở tại để kể cho bạn bè về quê hương của cha mẹ mình… Những việc tưởng như nhỏ ấy, khi được hàng triệu người Việt Nam trên thế giới cùng thực hiện, sẽ tạo nên một nguồn lực rất lớn cho hình ảnh quốc gia.Đó chính là quá trình chuyển từ “giữ văn hóa cho mình” sang “chia sẻ văn hóa với thế giới”.

Theo ông Nguyễn Duy Anh, Nghị quyết 23 mở ra một tầm nhìn và cũng đặt lên mỗi chúng ta một trách nhiệm. Nhà nước tạo chủ trương và cơ chế; các cơ quan đại diện là cầu nối; hội đoàn tạo nên môi trường cộng đồng; giáo viên giữ từng lớp học; cha mẹ giữ tiếng Việt trong mỗi gia đình; và thế hệ trẻ sẽ quyết định tiếng Việt, văn hóa Việt Nam được tiếp nối như thế nào trong tương lai.

Ông Nguyễn Duy Anh tin tưởng, với những định hướng mới của Nghị quyết 23, cùng sự đồng hành của Đảng, Nhà nước và sự chủ động của cộng đồng, tiếng Việt và văn hóa Việt Nam sẽ không chỉ được gìn giữ trong mỗi gia đình người Việt ở nước ngoài mà còn được lan tỏa ngày càng mạnh mẽ, trở thành một nguồn lực kết nối Việt Nam với thế giới.

Khánh Lan

Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời, đồng thời là nguồn lực quan trọng của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Theo ông Nguyễn Duy Anh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Nhật Bản, Tổng Thư ký Mạng lưới Giảng dạy tiếng Việt và gìn giữ văn hóa Việt Nam toàn cầu, văn kiện mở ra cơ hội để mỗi kiều bào tham gia sâu hơn vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Nghị quyết số 23-NQ/TW thể hiện sự kế thừa và phát triển nhất quán từ Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26/3/2004, Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19/5/2015 và Kết luận số 12-KL/TW ngày 12/8/2021. Tiến trình này cho thấy công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng được đặt trong tổng thể chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, gắn quyền lợi, trách nhiệm và khả năng đóng góp của kiều bào với tương lai quê hương. Trong các định hướng mới, bảo tồn tiếng Việt và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đặc biệt đối với thế hệ trẻ, mang ý nghĩa chiến lược lâu dài. Nếu thế hệ đầu tiên thường mang theo ngôn ngữ, ký ức và phong tục từ quê nhà, thế hệ thứ hai, thứ ba lại lớn lên trong môi trường giáo dục, giao tiếp và đời sống xã hội chủ yếu bằng ngôn ngữ của nước sở tại. Thực tế tại Nhật Bản, Pháp, Hàn Quốc, Hoa Kỳ hay Australia cho thấy người trẻ có thể nhận thức nguồn gốc Việt Nam nhưng vẫn dần xa quê hương nếu thiếu khả năng trò chuyện sâu sắc với ông bà, tiếp nhận câu chuyện gia đình và hiểu biết về lịch sử, phong tục dân tộc. Vì vậy, gìn giữ tiếng Việt không chỉ là bảo tồn một phương tiện giao tiếp, mà còn duy trì sợi dây truyền tải ký ức, căn tính và tình cảm cộng đồng, qua đó tạo nền tảng bền vững cho công tác đại đoàn kết đối với người Việt Nam ở nước ngoài.