Bỏ qua điều hướng
•

Vì sao gọi là mèn mén?

Vì sao gọi là mèn mén?
Nguồn ảnh: VTC News

Mèn mén là món ăn đặc trưng của người Mông mang trong mình câu chuyện văn hóa và lịch sử thú vị; vì sao có cái tên này?

Nếu từng ghé thăm những phiên chợ nổi tiếng tại Bắc Hà, Sa Pa, Đồng Văn, du khách sẽ bắt gặp hình ảnh những bát bột màu vàng ươm, tơi xốp và tỏa mùi thơm dịu nhẹ của ngô chín. Món ăn ấy có cái tên nghe rất lạ tai là mèn mén.

Nhiều du khách khi lần đầu thưởng thức món ăn này không khỏi thắc mắc: “Vì sao lại gọi là mèn mén?”. Câu trả lời không chỉ nằm ở khía cạnh ngôn ngữ, mà còn mở ra cả một bề dày văn hóa và lịch sử gắn liền với đời sống của người H’Mông trên những cao nguyên đá.

Mèn mén là món ăn đặc trưng ở vùng núi phía Bắc. (Ảnh: Asia Travel)

Mèn mén là món ăn đặc trưng ở vùng núi phía Bắc. (Ảnh: Asia Travel)

Lý giải tên gọi mèn mén

Từ “mèn mén” thực chất là cách phát âm chệch đi từ tiếng quan thoại Trung Quốc; trong đó từ “màn mán” (miàn fàn) được dùng để chỉ món cơm làm từ bột ngô hoặc các loại lương thực xay mịn.

Khi du nhập vào đời sống và ngôn ngữ của người Mông, âm “màn mán” dần biến đổi thành “mèn mén” cho dễ đọc và phù hợp với vần điệu bản địa. Trong chính ngôn ngữ nguyên bản của đồng bào Mông, món ăn này cũng được gọi là “mỳ xí” hoặc “mỳ xố”, có nghĩa là ngô hấp hoặc cơm ngô.

Qua hàng trăm năm giao thoa văn hóa giữa người Mông, người Tày, người Nùng và người Kinh ở vùng biên viễn, cái tên “mèn mén” trở nên phổ biến hơn cả. Tên gọi này vừa gợi ra hình ảnh món ăn giản dị, phản ánh quá trình tiếp xúc và hòa nhập ngôn ngữ giữa các cộng đồng dân tộc cùng sinh sống trên một dải đất.

Mèn mén gắn bó sâu sắc với đời sống người dân tộc vùng cao. (Ảnh: Quang Nguyen/Pexel)

Mèn mén gắn bó sâu sắc với đời sống người dân tộc vùng cao. (Ảnh: Quang Nguyen/Pexel)

Sự ra đời của mèn mén

Để hiểu vì sao mèn mén trở thành món ăn biểu tượng, cần tìm hiểu không gian sống của đồng bào Mông trên các dải núi cao. Nơi sinh sống chủ yếu là những vùng cao nguyên đá tai mèo lởm chởm, nơi đất không đủ rộng để gieo hạt, nước không đủ nhiều để làm ruộng.

Ở những vùng đất ấy, cây lúa nước khó lòng sống sót. Ngô trở thành loại cây lương thực chính, bám rễ vào từng hốc đá để lớn lên. Cây ngô nuôi sống biết bao thế hệ người Mông qua những mùa đông giá lạnh. Từ hạt ngô thu hoạch sau mỗi vụ mùa, người ta sáng tạo ra mèn mén như một giải pháp chế biến lương thực để lưu trữ và ăn quanh năm.

Quy trình làm mèn mén vô cùng vất vả và đòi hỏi sự kiên nhẫn. Ngô sau khi thu hoạch được phơi khô trên xà nhà, sau đó đem tách hạt, nhặt bỏ những hạt lép hay hỏng.

Hạt ngô khô được đưa vào cối đá xay nhỏ. Công đoạn xay ngô đòi hỏi sự khéo léo để bột không quá mịn. Bột ngô xay xong được làm sạch vỏ rồi trộn với lượng nước vừa đủ để tạo độ ẩm.

Điểm đặc biệt nhất trong kỹ thuật chế biến mèn mén chính là việc phải đồ hai lần. Lần đồ thứ nhất giúp bột ngô chín tới và nở đều. Sau đó, người ta đổ bột ra nia, dùng tay vò cho bột tơi ra rồi tiếp tục cho vào chõ đồ lần thứ hai. Nhờ quy trình hai lần lửa này, mèn mén mới đạt độ mềm, tơi xốp, bùi ngậy và không bị khô cứng.

Để chế biến mèn mén, người nội trợ phải trải qua nhiều bước vất vả. (Ảnh: Quang Nguyen/Pexel)

Để chế biến mèn mén, người nội trợ phải trải qua nhiều bước vất vả. (Ảnh: Quang Nguyen/Pexel)

Hương vị mèn mén

Mèn mén không phải là món ăn thưởng thức một cách vội vàng. Bản chất của mèn mén là bột ngô hấp chín nên khá khô. Do đó, người H’Mông thường ăn mèn mén kèm với các loại canh như canh rau cải, canh tẩu chúa (đậu phụ), canh ớt hay đặc biệt là húp cùng nước dùng của chảo thắng cố nóng hổi tại các phiên chợ.

Khi xúc thìa mèn mén vào miệng, người ăn sẽ cảm nhận được vị ngọt tự nhiên của ngô nương, vị bùi bùi lan tỏa nơi đầu lưỡi cùng hương thơm ngào ngạt. Kết hợp với vị cay nồng của ớt rừng hay vị đậm đà của nước canh, món ăn tạo nên một trải nghiệm ẩm thực độc đáo mà bất kỳ ai từng thử qua cũng khó lòng quên được.

Ngày nay, khi đời sống kinh tế phát triển, hạt gạo đã xuất hiện nhiều hơn trong mỗi bữa ăn của đồng bào vùng cao. Tuy nhiên, mèn mén vẫn giữ một vị trí không thể thay thế, vẫn được thưởng thức hàng ngày.

Món mèn mén vẫn được thưởng thức hàng ngày. (Ảnh: Asia Travel)

Món mèn mén vẫn được thưởng thức hàng ngày. (Ảnh: Asia Travel)

Tên gọi “mèn mén” tuy mộc mạc, giản dị nhưng lại ẩn chứa cả một câu chuyện về sự thích nghi bền bỉ của con người trước thiên nhiên khắc nghiệt. Nhắc đến mèn mén là nhắc đến bàn tay khéo léo của người phụ nữ Mông, đến những túp lều tỏa khói bếp bên sườn núi và đến vẻ đẹp nguyên sơ, ấm áp của văn hóa ẩm thực Tây Bắc.

Mèn mén, món ăn quen thuộc tại các phiên chợ Bắc Hà, Sa Pa hay Đồng Văn, thực chất bắt nguồn từ cách đọc chệch từ tiếng Quan Thoại "màn mán" chỉ món cơm làm từ bột ngô. Trong ngôn ngữ bản địa của người Mông, thức quà này còn được gọi là "mỳ xí" hoặc "mỳ xố" với ý nghĩa là cơm ngô hay ngô hấp. Trải qua quá trình cộng cư và giao thoa văn hóa lâu đời với các dân tộc Tày, Nùng và Kinh ở vùng biên viễn, danh xưng mèn mén dần trở nên phổ biến hơn cả. Sự hiện diện của mèn mén gắn liền với điều kiện địa hình khắc nghiệt trên những triền đá tai mèo lởm chởm, nơi cây lúa nước không thể sinh trưởng. Giữa sự thiếu thốn về đất đai màu mỡ và nguồn nước tưới tiêu, cây ngô trở thành lương thực cốt lõi nuôi sống cộng đồng qua những mùa đông giá lạnh. Việc chế biến ngô thành mèn mén là một giải pháp sinh tồn sáng tạo nhằm tích trữ nguồn lương thực quý giá này để sử dụng bền bỉ quanh năm. Quy trình tạo ra thành phẩm đòi hỏi sự kiên nhẫn cùng kỹ thuật thủ công vô cùng công phu. Hạt ngô phơi khô sau khi tách bỏ hạt lép sẽ được xay bằng cối đá sao cho bột không quá mịn, rồi đem sẩy sạch vỏ và trộn lượng nước vừa đủ ẩm. Kỹ thuật then chốt nằm ở việc đồ chín hai lần lửa, xen giữa là bước vò tơi bột trên nia, giúp hạt ngô đạt độ nở đều, mềm xốp và giữ được trọn vẹn vị bùi ngậy đặc trưng. Do tính chất bột hấp khá khô, đồng bào vùng cao thường kết hợp món ăn này cùng các loại canh để cảm nhận trọn vẹn hương vị mộc mạc.
amung