Hành trình "xuống phố" của giống hoa cổ
Hồng cổ Sa Pa (tên khoa học: Rosa gallica L.) từ lâu đã là nguồn giống hoa quý gắn liền với vùng núi cao Hoàng Liên Sơn.
Nét hấp dẫn của loài hoa này nằm ở dáng cây bụi thân gỗ phát triển rộng, hoa kép sắc hồng đặc trưng với nhiều lớp cánh và hương thơm nhẹ dịu.
Cây hoa hồng cổ Sa Pa (Ảnh: Getty).
Nhận định về giá trị của giống hoa này dưới góc độ bảo tồn và phát triển, PGS.TS Đặng Văn Đông - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả chia sẻ: "Hồng cổ Sa Pa mang giá trị của một nguồn giống được gìn giữ lâu năm, đồng thời mở ra cơ hội phát triển cây cảnh, cảnh quan và sinh kế cho người dân".
Trước đây, giống hoa này chủ yếu được lưu giữ trong không gian vườn nhà của cộng đồng các dân tộc địa phương. Để phát triển sản xuất hàng hóa và đưa cây vào trồng trang trí tại các vùng đô thị đồng bằng, các nhà khoa học đã triển khai nhiều đề tài nghiên cứu bài bản.
Kết quả khảo nghiệm tại Mê Linh (Hà Nội) và Cẩm Phả (Quảng Ninh) đã chứng minh hồng cổ Sa Pa hoàn toàn có thể sinh trưởng và ra hoa tốt ngoài điều kiện khí hậu núi cao.
PGS.TS Đặng Văn Đông - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả (Ảnh: Minh Nhật).
Thực nghiệm ghi nhận tại Cẩm Phả cho thấy bông hoa đạt khoảng 51 cánh, đường kính trung bình khoảng 5,7cm.
Nhấn mạnh sự kết nối giữa tri thức dân gian và nghiên cứu hiện đại, PGS.TS Đặng Văn Đông cho biết: "Người dân Sa Pa gìn giữ giống; nhà vườn tại Mê Linh, Cẩm Phả, Hưng Yên tham gia nhân giống, chăm sóc, thử nghiệm; nhà khoa học góp phần chuẩn hóa kỹ thuật. Nghiên cứu chỉ thực sự có ý nghĩa và thiết thực khi góp phần tạo sản phẩm tốt hơn và cải thiện đời sống người trồng hoa".
"Trúng lớn" nhờ đa dạng hóa mô hình kinh tế và sinh kế bền vững
Việc đưa hồng cổ Sa Pa từ núi cao về vùng đồng bằng không chỉ làm phong phú cảnh quan đô thị mà còn mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội cho người sản xuất.
Tại Mê Linh, mô hình nhân giống bằng phương pháp ghép 5.000 mắt trên gốc tầm xuân do ThS Nguyễn Thị Thanh Tuyền làm chủ nhiệm đã đạt tỷ lệ mầm sống tới 95,1%.
Với 4.800 cây xuất vườn sau 60 ngày chăm sóc, giá bán 45.000 đồng/cây mang lại tổng thu 216 triệu đồng và lãi thuần hơn 30,2 triệu đồng trên diện tích 250 m². So với phương pháp canh tác ngoài mô hình, hiệu quả lợi nhuận thuần tăng khoảng 47%.
Ở quy mô lớn hơn, mô hình du lịch sinh thái kết hợp bảo tồn tại Sa Pa đã chứng minh sức hút kinh tế ấn tượng.
Hồng cổ Sa Pa có trên 50 cánh hoa (Ảnh: Getty).
“Điển hình như Vườn hồng Mộng Mơ của ông Đỗ Phú Chính với diện tích 3ha, quy tụ hơn 2.000 gốc hồng cổ. Nhờ kết hợp bán cây giống, đón khách tham quan và chế biến sản phẩm từ hoa, mô hình đạt doanh thu khoảng 4 tỷ đồng/năm, lợi nhuận trên 2 tỷ đồng và tạo việc làm ổn định cho 15 lao động địa phương với mức thu nhập 8-15 triệu đồng/người/tháng”, PGS Đông chỉ rõ.
Thách thức lớn nhất khi đưa một giống hoa vốn quen với khí hậu ôn đới núi cao xuống vùng đồng bằng là thời tiết mùa hè nắng nóng, mưa nhiều và độ ẩm cao. Những yếu tố này dễ làm giảm chất lượng hoa, khiến cây kém phát triển và gia tăng nguy cơ bùng phát sâu bệnh.
Bàn về giải pháp kỹ thuật giúp cây thích nghi ngoài vùng núi Sa Pa, theo PGS Đông, khảo nghiệm tại Cẩm Phả cho thấy hồng cổ Sa Pa hoàn toàn có thể sinh trưởng, ra hoa ngoài điều kiện núi cao.
Tuy nhiên, không nên áp dụng nguyên cách trồng tại Sa Pa cho các địa phương khác. Trước hết, cần chọn cây khỏe, đúng giống, bộ rễ tốt.
Bố trí nơi trồng có ánh sáng thích hợp, đất hoặc giá thể tơi xốp, thoát nước tốt. Tưới hợp lý, tránh úng, bón phân cân đối, ưu tiên nguồn hữu cơ đã xử lý. Người trồng cần tỉa bỏ cành già, cành yếu, cành sâu bệnh để tán thông thoáng... theo dõi phấn trắng, đốm đen và côn trùng chích hút.
Nghiên cứu tại Cẩm Phả ghi nhận thí nghiệm che lưới, chăm sóc mùa hè cho kết quả tích cực trên hồng cổ Sa Pa. Tuy nhiên, biện pháp giảm nắng, dưỡng cây phải dựa vào điều kiện cụ thể. Muốn cây ra hoa ổn định, cần hiểu đặc tính giống, theo dõi theo mùa và điều chỉnh kỹ thuật phù hợp.
“Hiệu quả nghiên cứu ứng dụng cần được đánh giá qua việc người dân có sử dụng được công nghệ hay không, sản phẩm có được thị trường đón nhận và thu nhập người trồng có cải thiện hay không.
Ba khâu cần ưu tiên là chuyển giao kỹ thuật thực chất, tổ chức sản xuất theo đơn đặt hàng hoặc tín hiệu thị trường và liên kết tiêu thụ. Nhà khoa học cung cấp cơ sở giống, quy trình, tập huấn, hỗ trợ kỹ thuật.
Nhà vườn, hợp tác xã tổ chức sản xuất đồng đều, doanh nghiệp xác định nhu cầu, tiêu chuẩn, kế hoạch mua hàng và phát triển thị trường”, PGS Đông nhấn mạnh.