Bỏ qua điều hướng
•

Việt Nam có thể lưu trữ 71 tỷ tấn CO₂, chi phí đầu tư lên tới hàng tỷ USD

Việt Nam có thể lưu trữ 71 tỷ tấn CO₂, chi phí đầu tư lên tới hàng tỷ USD
Nguồn ảnh: VietnamNet

Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng lưu trữ CO₂ tốt nhất ở khu vực Đông Nam Á, khoảng 71 tỷ tấn. Tuy nhiên, chi phí đầu tư có thể lên tới hàng tỷ USD.

Tại hội thảo “Công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ CO₂ (CCUS): Giải pháp thúc đẩy Net Zero tại Việt Nam”, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên cho biết, để thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, Việt Nam cần đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi phương thức sản xuất và sử dụng tài nguyên theo hướng hiệu quả, ít phát thải, đồng thời bảo đảm an ninh năng lượng và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Thu truong Le Trong Yen.jpg
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên phát biểu tại hội thảo. Ảnh: BTC

Đối với Việt Nam, các nghiên cứu bước đầu về lưu trữ CO₂ ngoài khơi, kinh nghiệm trong lĩnh vực dầu khí và nhu cầu chuyển đổi của các ngành công nghiệp tạo cơ sở để xem xét những hướng ứng dụng cụ thể.

Các giải pháp sử dụng CO₂ trong sản xuất hóa chất, nhiên liệu, vật liệu xây dựng, cũng như kết hợp thu giữ CO₂ với sản xuất hydro, đang mở ra thêm những hướng nghiên cứu và hợp tác. Mỗi hướng đi cần được đánh giá đầy đủ về điều kiện áp dụng, hiệu quả giảm phát thải và khả năng phát triển thị trường.

Việt Nam sở hữu tiềm năng lớn

Theo TS. Nguyễn Hữu Lương, chuyên gia cao cấp Viện Dầu khí Việt Nam, quy mô công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon toàn cầu tăng nhanh với 77 dự án đang vận hành, 610 dự án ở giai đoạn phát triển. Các kiểu địa chất lưu trữ CO₂ trên thế giới gồm: mỏ dầu khí cạn kiệt, tầng chứa nước mặn và vỉa than sâu không khai thác.

Ông Lương cho biết Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng lưu trữ CO₂ tốt nhất ở khu vực Đông Nam Á với khoảng 71 tỷ tấn, tập trung chủ yếu vào 3 khu vực địa chất: bể Sông Hồng, bể Nam Côn Sơn và bể Cửu Long.

"Việt Nam còn nhiều lợi thế cho công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS) như: 34 mỏ dầu khí ngoài khơi đã được đánh giá sơ bộ tiềm năng lưu trữ CO₂. Năm 2011, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á bơm ép CO₂ thành công tại mỏ Rạng Đông”, ông Lương nói.

TS Nguyen Huu Luong.jpg
TS. Nguyễn Hữu Lương nêu ý kiến tại hội thảo. Ảnh: BTC

Ông Erskine Rozario, Giám đốc Kỹ thuật và Thi công Z.E.G Technology cho biết tại Đức và nhiều quốc gia khác, CO₂ đang được dùng trong sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững (SAF), e-methanol hay các loại e-fuel.

Do đó, CCUS hoàn toàn có thể trở thành một ngành công nghiệp hoàn toàn mới tại Việt Nam, mở ra cơ hội đào tạo nhân lực và làm chủ công nghệ cao trong tương lai.

Bài toán chi phí đầu tư

Một trong những thách thức lớn khi triển khai các dự án trên là chi phí đầu tư. Theo TS. Nguyễn Hữu Lương, dự án lưu trữ CO₂ thường có chi phí từ vài trăm triệu đến vài tỷ USD.

Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc QIS Global Lê Văn Nghi cho biết một dự án thu giữ carbon tại nhà máy nhiệt điện công suất khoảng 600 MW có thể cần vốn đầu tư khoảng 30 triệu USD. Mức vốn này đòi hỏi doanh nghiệp cân nhắc kỹ hiệu quả kinh tế và khả năng thu hồi vốn.

Để giảm áp lực đầu tư ban đầu, ông Nghi đề xuất xem xét triển khai theo mô-đun, bắt đầu với công suất thu giữ khoảng 10.000-20.000 tấn CO₂ mỗi năm, sau đó đánh giá hiệu quả trước khi mở rộng quy mô.

Theo ông Darshil Korde, Trưởng bộ phận Phát triển Bền vững của ISSPL Limited, để giải quyết bài toán vốn, cơ chế tài chính CCUS cần có các đơn vị tài chính trung gian nhằm kết nối các nguồn quỹ ngân sách, thị trường trái phiếu quốc tế, tín dụng thương mại, cổ phần tư nhân và dòng tiền hồi hoàn từ thị trường tín chỉ carbon.

Ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, đánh giá Việt Nam có nền tảng chính trị và bước đầu có cơ sở pháp lý để phát triển CCUS. Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ chế tài chính phù hợp, đánh giá đầy đủ tiềm năng địa chất và tăng cường hợp tác quốc tế.

Việt Nam cần tăng cường hợp tác quốc tế, tiếp nhận và chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, đồng thời nghiên cứu cơ chế huy động tài chính phù hợp. Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp và giới khoa học sẽ là điều kiện quan trọng để sớm triển khai các dự án CCUS đầu tiên, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn để đón đầu làn sóng công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS) nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Theo các chuyên gia tại hội thảo CCUS mới đây, năng lực lưu trữ CO₂ của nước ta ước tính đạt khoảng 71 tỷ tấn, thuộc nhóm dẫn đầu khu vực Đông Nam Á. Tiềm năng địa chất này tập trung chủ yếu tại ba khu vực gồm bể Sông Hồng, bể Nam Côn Sơn và bể Cửu Long, cùng kinh nghiệm thực tiễn từ 34 mỏ dầu khí ngoài khơi đã được đánh giá sơ bộ. Bên cạnh tiềm năng tự nhiên, việc ứng dụng CCUS còn mở ra triển vọng hình thành một ngành công nghiệp công nghệ cao hoàn toàn mới. Nguồn CO₂ thu hồi có thể được tái sử dụng để sản xuất hóa chất, vật liệu xây dựng, kết hợp điều chế hydro hoặc sản xuất các loại nhiên liệu bền vững như SAF và e-methanol. Định hướng này không chỉ hỗ trợ quá trình chuyển dịch năng lượng trong nước mà còn tạo tiền đề làm chủ kỹ thuật và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Dù vậy, rào cản tài chính vẫn là thách thức then chốt khi mỗi dự án lưu trữ hoàn chỉnh thường đòi hỏi tổng mức đầu tư từ vài trăm triệu đến hàng tỷ USD. Đơn cử, hệ thống thu giữ carbon cho một nhà máy nhiệt điện công suất 600 MW đã cần nguồn vốn ban đầu khoảng 30 triệu USD. Để cân đối bài toán kinh tế và kiểm soát rủi ro thu hồi vốn, giải pháp khả thi là triển khai theo từng mô-đun với công suất thử nghiệm từ 10.000 đến 20.000 tấn CO₂ mỗi năm trước khi nhân rộng quy mô thương mại.
amung