Bỏ qua điều hướng
•

Xây dựng ngành lâm nghiệp đa giá trị, phát triển bền vững

Xây dựng ngành lâm nghiệp đa giá trị, phát triển bền vững
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Lập lại kỷ cương quản lý đất lâm nghiệp Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III và 9 tháng năm 2026 đạt kết quả tích cực Trao ...

Mục tiêu tổng quát của điều chỉnh Quy hoạch nhằm cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng; bảo đảm phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, Quy hoạch tổng thể quốc gia, Quy hoạch sử dụng đất quốc gia và các quy hoạch có liên quan; xác định mục tiêu, định hướng phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2026-2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

Xây dựng ngành lâm nghiệp hiện đại, hiệu quả, đa giá trị, phát triển bền vững; phát huy các tiềm năng, vai trò và tác dụng của rừng, nâng cao chất lượng và khả năng hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, bảo vệ môi trường, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái rừng, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện sinh kế cho người dân nông thôn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, giữ vững quốc phòng, an ninh và thực hiện các cam kết quốc tế.

Phấn đấu tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân giai đoạn 2026-2030 đạt 5,5%/năm

Mục tiêu tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân giai đoạn 2026-2030 là 5,0-5,5%/năm; giá trị xuất khẩu lâm sản đạt trên 20 tỷ USD vào năm 2030; giá trị tiêu thụ lâm sản thị trường trong nước đạt 6 đến 7 tỷ USD vào năm 2030.

Đến năm 2030, nâng cao thu nhập, mức sống cho người lao động tham gia sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt là người dân tộc thiểu số; tỷ lệ lao động trong sản xuất lâm nghiệp được đào tạo nghề làm việc trong lâm nghiệp từ 20% lên 30%; bảo đảm bình đẳng giới.

Đến năm 2030, bảo đảm tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc ổn định ở mức 42%, đóng góp hiệu quả vào việc thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Đến năm 2050, xây dựng ngành lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế, kỹ thuật hiện đại

Đến năm 2050, xây dựng ngành lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế, kỹ thuật hiện đại trên cơ sở phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế của tài nguyên rừng nhiệt đới; làm chủ công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường; tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao, chủ động tham gia chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu; đóng góp ngày càng tăng vào phát triển kinh tế-xã hội bền vững của đất nước.

Ngành lâm nghiệp góp phần xây dựng đất nước xanh, an toàn, thịnh vượng, đặc biệt là mô hình nông thôn mới giàu, đẹp và văn minh ở vùng miền núi trên cơ sở cải thiện sinh kế, phát triển kinh tế xanh gắn với tài nguyên rừng, giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống và không gian sinh tồn của đồng bào các dân tộc thiểu số; bảo đảm giữ vững quốc phòng, an ninh...

Đến năm 2030 hoàn thành việc giao rừng đối với diện tích rừng đang tạm giao Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý

Theo định hướng, quy hoạch diện tích đất lâm nghiệp đến năm 2030 là 15.550,53 nghìn ha; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 14.074,89 nghìn ha.

Giai đoạn 2026-2030, trồng rừng 1.250-1.500 nghìn ha; phát triển cây trồng phân tán từ 300-330 triệu cây.

Đến năm 2030, hoàn thành việc giao rừng gắn với giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư đối với diện tích rừng và đất lâm nghiệp đang tạm giao Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp quản lý.

Ứng dụng công nghệ cao để quản lý, bảo vệ rừng

Ứng dụng công nghệ cao trong quản lý, theo dõi, giám sát, bảo vệ rừng, đặc biệt là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên; quản lý chặt chẽ các khu rừng đặc dụng theo nguyên tắc ưu tiên bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo đảm ổn định diện tích, ranh giới và chức năng bảo tồn của hệ sinh thái; không làm suy giảm giá trị của rừng.

Đồng thời, tăng cường các biện pháp bảo vệ, phát triển và khai thác hợp lý các loài lâm sản ngoài gỗ có giá trị, các loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; hình thành các vùng nguyên liệu lâm sản ngoài gỗ, tạo ra những sản phẩm đặc trưng cho từng vùng.

Về khai thác rừng, đến năm 2030, sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng tập trung đạt trên 30 triệu m3/năm và sản lượng gỗ khai thác từ cây trồng phân tán, cây vườn nhà, cây cao su đạt 10 triệu m3/năm; thiết lập và vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc gỗ nguyên liệu hợp pháp; ứng dụng công nghệ, thiết bị trong khai thác, vận chuyển gỗ, lâm sản.

Đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong chế biến gỗ, lâm sản

Về phát triển chế biến, thương mại gỗ và lâm sản, ưu tiên ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong chế biến gỗ, lâm sản; đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị hiện đại nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, sử dụng tiết kiệm nguyên liệu, tạo ra các sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao.

Phát triển hệ thống truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chuỗi cung ứng gỗ, đáp ứng các yêu cầu của thị trường và các cam kết quốc tế. Tăng cường xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu gỗ Việt Nam, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, phát triển thị trường trong nước, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế của ngành chế biến gỗ và lâm sản.

Phát triển du lịch gắn với bảo vệ và phát triển rừng

Định hướng phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí và dịch vụ môi trường rừng như sau:

Phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí gắn với bảo vệ và phát triển rừng bền vững: Rà soát, nghiên cứu hoàn thiện cơ chế, chính sách hiện hành, tạo điều kiện để phát triển du lịch gắn với bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương; huy động nguồn lực xã hội trong phát triển du lịch gắn với bảo vệ và phát triển rừng.

Phát triển dịch vụ môi trường rừng: Tiếp tục thực hiện hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (trong đó có dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng), phát triển thị trường tín chỉ carbon rừng, tạo nguồn tài chính ổn định, bền vững cho công tác quản lý, bảo vệ, phát triển và nâng cao chất lượng rừng. Thu dịch vụ môi trường rừng đạt bình quân 4.000 tỷ đồng/năm giai đoạn 2026-2030. Nghiên cứu mở rộng các loại hình và đối tượng chi trả dịch vụ môi trường rừng...

Hà Thanh Giang

Quyết định số 2018/QĐ-TTg vừa được phê duyệt nhằm điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, đánh dấu bước chuyển trọng tâm sang mô hình kinh tế rừng đa giá trị và bền vững. Chiến lược này gắn kết chặt chẽ quy hoạch sử dụng đất với mục tiêu bảo tồn hệ sinh thái, nâng cao năng lực lưu giữ carbon và cải thiện sinh kế vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là tiền đề căn bản để ngành lâm nghiệp vừa thực hiện các cam kết quốc tế về giảm nhẹ thiên tai, vừa bảo đảm quốc phòng và an ninh môi trường. Trong giai đoạn 2026-2030, ngành lâm nghiệp đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất từ 5,0% đến 5,5% mỗi năm, hướng tới kim ngạch xuất khẩu vượt mốc 20 tỷ USD. Thị trường trong nước dự kiến đóng góp 6 đến 7 tỷ USD vào năm 2030, song song với nhiệm vụ nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề lên mức 30%. Bên cạnh chỉ tiêu kinh tế, quy hoạch kiên định duy trì tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc ổn định ở mức 42% nhằm xác lập nền tảng hấp thụ carbon dài hạn. Về quy mô không gian, diện tích đất lâm nghiệp đến năm 2030 được định hướng là 15.550,53 nghìn ha, trong đó đất có rừng chiếm 14.074,89 nghìn ha. Kế hoạch giai đoạn 2026-2030 tập trung trồng mới từ 1.250 đến 1.500 nghìn ha rừng và phát triển 300 đến 330 triệu cây phân tán. Đồng thời, toàn bộ diện tích rừng tạm giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã sẽ được hoàn thành giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho các tổ chức, hộ gia đình và cộng đồng trước năm 2030. Tầm nhìn đến năm 2050 xác định xây dựng lâm nghiệp thành ngành kinh tế kỹ thuật hiện đại, chủ động làm chủ công nghệ tiên tiến và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việc tối ưu hóa tiềm năng rừng nhiệt đới sẽ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông thôn miền núi theo hướng phát triển kinh tế xanh. Định hướng này khẳng định vai trò cốt lõi của tài nguyên rừng trong cấu trúc tăng trưởng kinh tế xã hội bền vững của quốc gia.
amung