Bỏ qua điều hướng
•

“Làm nghiên cứu, trước hết là phải vui”

“Làm nghiên cứu, trước hết là phải vui”
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Đó là khẳng định của Giáo sư Peter Hegemann, một trong ba người nhận Giải Nobel Y sinh 2026.

Một cuộc rong chơi thuở hoa niên

Cách đây hơn 50 năm, Peter Hegemann từng tham gia dàn hợp xướng của ngôi trường trung học Kaiser-Karls-Gymnasium, biểu diễn tác phẩm Carmina Burana của nhà soạn nhạc Carl Orff. Đây là một cantata quy mô lớn, đòi hỏi có dàn hợp xướng, ba giọng hát solo và dàn nhạc giao hưởng.

Tạo ấn tượng mạnh nhất đối với Peter Hegemann, chính là việc người thầy dạy nhạc của trường đã tự mình chuyển soạn tác phẩm (viết lại bản nhạc phù hợp đội hình học sinh, phân bổ lại các bè, hạ cữ giọng cho người hát, hay lược bớt những chỗ quá khó...), công việc vốn dành cho các nhạc sĩ chuyên nghiệp. Đặc biệt, thầy Vent còn khuyến khích Hegemann thổi sáo và hát trong dàn hợp xướng, đồng thời giúp các học sinh có cơ hội tham gia những sự kiện đặc biệt như buổi tối trình diễn Carmina Burana.

Tuy vậy, điều đọng lại với Hegemann lâu hơn cả âm nhạc lại là cảm giác về sự bất công. Ở Kaiser-Karls-Gymnasium, giáo dục thời ấy vẫn còn bảo thủ và khá độc đoán. Trọng tâm giáo dục là các ngôn ngữ cổ điển như tiếng Hy Lạp và tiếng Latin, nên các thầy dạy những môn này luôn là các nhân vật quan trọng nhất.

Hegemann không thấy việc học thuộc từ vựng về đủ loại vũ khí La Mã cổ đại mang đến bất kỳ chút hấp dẫn và ứng dụng thực tế nào. Trong khi đó, thầy Vent đã cực kỳ xuất sắc khi viết lại các tác phẩm âm nhạc lớn cho thiếu niên, nhưng lại chưa bao giờ thật sự được trân trọng. Sự phá cách, phiêu lãng và tự do mà thầy Vent truyền cho ông từ cuộc chơi âm nhạc năm xưa sẽ còn hằn in vào tâm tưởng Hegemann, suốt cả sự nghiệp.

Cảm hứng từ những người thầy

Hơn nửa thế kỷ sau buổi diễn vở Carmina Burana, Viện Karolinska ở Stockholm (Thụy Điển) công bố Peter Hegemann là một trong ba nhà khoa học được trao Giải Nobel Y sinh năm 2026, vì những phát hiện liên quan tới các kênh ion cảm quang và quang di truyền học. Trong thông cáo, Ủy ban Nobel nhấn mạnh: Tất cả bắt đầu từ sự tò mò của Peter Hegemann, muốn biết vì sao tảo đơn bào có thể bơi về phía nguồn sáng. Đây là loại câu hỏi vốn không hứa hẹn gì, chẳng ai đặt hàng, và gần như không ai quan tâm trong nhiều năm (về điểm này thật tương đồng với chuyện viết lại khí nhạc của thầy Vent).

Hegemann quyết định lựa chọn nghiên cứu tảo trong thời gian thực tập ở bộ môn Thực vật học của Đại học Ludwig-Maximilian (Munich, Đức). Lý do chỉ đơn giản là vì được Giáo sư Hugo Scheer truyền cảm hứng, khi nghiên cứu những protein màu trong vi khuẩn lam làm nhiệm vụ hấp thụ ánh sáng, rồi chuyển năng lượng ấy tới bộ máy quang hợp. “Thầy truyền đạt say mê đến mức, tôi hiểu ra rằng mình cũng muốn làm việc với những protein nhạy sáng”, Hegemann kể.

Chọn được hướng đi phù hợp, ông nhắm tới Viện Max Planck ở Martinsried, nơi có nhà hóa sinh Dieter Oesterhelt nghiên cứu về bacteriorhodopsin, một protein ở vi khuẩn cổ, có thể dùng ánh sáng để bơm ion qua màng tế bào. Đây gần như là địa điểm duy nhất ở Munich khi ấy đang trong quá trình khám phá đúng loại protein Hegemann vừa chọn theo đuổi. Sau khi giáo sư Scheer cho ông thấy rằng, có những protein biết hấp thụ ánh sáng, Oesterhelt nghiên cứu những protein biết dùng ánh sáng để làm việc.

Quyết tâm đeo bám mục tiêu đến cùng đã mang đến môi trường nghiên cứu phù hợp mong muốn và những đồng nghiệp đáng quý. “Oesterhelt, dù trở thành Giám đốc Viện Max Planck ở tuổi 40, vẫn tự tay làm thí nghiệm. Thầy đối xử với mọi người như nhau, nói chuyện với sinh viên làm luận văn cũng giống như đồng nghiệp giáo sư khác”, Hegemann nhớ lại.

Trong thời gian dài, câu hỏi của Hegemann chỉ đơn giản là loài tảo lục đơn bào sống trong ao hồ bơi về phía ánh sáng bằng cách nào? Tới năm 1991, Hegemann cùng cộng sự công bố kết quả nghiên cứu cho thấy: Chuyển động roi bơi của tảo được điều khiển bằng những tín hiệu điện phụ thuộc vào các protein gắn retinal nằm ở điểm mắt của nó. Và phải tới gần một thập kỷ sau, Hegemann cùng nhóm nghiên cứu tại Viện Max Planck mới phát hiện ra channelrhodopsin, đúng họ protein mà Hegemann đã lần theo từ thời làm luận án khi xưa.

Điều then chốt là bất kỳ tế bào nào mang protein ấy cũng trở nên nhạy sáng. Karl Deisseroth, một bác sĩ tâm thần ở Stanford, đọc được kết quả, đã viết thư cho hai nhà khoa học Đức, để biến con tảo ao thành “công tắc” cho tế bào thần kinh bằng ánh sáng, khai sinh ngành quang di truyền học.

15223.jpg
Peter Hegemann giới thiệu những ứng dụng thực tế của phương pháp quang di truyền học.

"Đổi thay như vầng trăng"

Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của mình, chính Hegemann đã khẳng định với Hãng thông tấn Đức DPA rằng, con đường nghiên cứu của mình không phải là một đường thẳng. Ông vốn là nhà hóa học, rồi làm hóa sinh, rồi chuyển sang sinh lý thực vật, suốt 10 năm.

Ba thập niên liên tiếp, những công trình Hegemann mày mò không hứa hẹn một sản phẩm nào, không có bệnh nào được chữa, không có bằng sáng chế nào trong tầm mắt. Đây là thí dụ điển hình của nghiên cứu cơ bản, vốn không đặt lợi ích trực tiếp lên trên.

Như chia sẻ của Hegemann, những ý tưởng mới thường không đến từ các liên minh nghiên cứu lớn, mà đến từ những đơn xin tài trợ của từng cá nhân nhỏ lẻ gửi Quỹ Nghiên cứu Đức. Bởi, sự tự do nghiên cứu không bị ràng buộc vào một đích đến định sẵn. Ngoài ra, ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của trao đổi quốc tế, đồng thời chia sẻ niềm tự hào về các cộng sự, khi nhóm của mình có ít nhất 10 quốc tịch khác nhau.

Đặc biệt, trong một cuộc họp báo ở Đại học Humboldt, khi được hỏi điều gì cần nhất cho nghiên cứu, Peter Hegemann nhấn mạnh: “Làm nghiên cứu cần sự can đảm. Bạn không thể bắt đầu với mong muốn giành lấy các giải thưởng. Khi làm nghiên cứu, trước hết nó phải vui. Bạn không biết kết quả sẽ ra sao, và quá trình tìm ra câu trả lời sẽ khiến bản thân cảm thấy hạnh phúc”. Thế nhưng, niềm vui ấy, theo cách ông đã theo đuổi, không đồng nghĩa với sự tùy tiện. Trong suốt sự nghiệp, ông luôn biết rõ câu hỏi mình muốn theo đuổi, và nơi nào có thể giúp ông tìm kiếm câu trả lời.

Hơn 50 năm sau thời điểm tốt nghiệp trung học phổ thông, ông vẫn đều đặn về Aachen gặp lại bạn cũ ở Kaiser-Karls-Gymnasium. Những lần gặp ấy, điều ông đặc biệt thích hồi tưởng là những buổi chiều dài cả nhóm học sinh ngồi sửa xe máy cùng nhau.

Trong cuộc trò chuyện với tờ nhật báo lớn nhất nước Đức Frankfurter Rundschau, Hegemann đã nhắc lại câu hát mở đầu Carmina Burana mà dàn hợp xướng trường ông từng hòa ca, trong hội trường Đại học Kỹ thuật Rhein-Westfalen: “Hỡi Số phận, đổi thay như vầng trăng”.

Và ông khẳng định rằng, câu hát ấy có lẽ đặc biệt hợp với thời điểm này ■

Anh Thư

Khi Viện Karolinska tại Thụy Điển công bố Giải Nobel Y sinh năm 2026, câu chuyện khoa học của Giáo sư Peter Hegemann đã thu hút sự chú ý sâu sắc từ giới học thuật quốc tế. Giải thưởng vinh danh các phát hiện đột phá về kênh ion cảm quang và quang di truyền học, lĩnh vực mở ra những bước tiến mang tính cách mạng cho y học hiện đại. Thành tựu đỉnh cao này bắt nguồn từ sự tò mò thuần túy trước câu hỏi vì sao tảo đơn bào có thể bơi về phía nguồn sáng, một đề tài từng bị xem là không có tính ứng dụng thực tế. Nền tảng tư duy độc lập của Peter Hegemann hình thành từ hơn nửa thế kỷ trước, thời điểm ông tham gia dàn hợp xướng tại trường trung học Kaiser-Karls-Gymnasium. Trải nghiệm chứng kiến thầy dạy nhạc Vent tự tay chuyển soạn vở Carmina Burana giữa một môi trường giáo dục bảo thủ đã định hình sâu sắc tinh thần tự do học thuật của ông. Tinh thần phá cách và khát khao vượt qua những quy chuẩn xơ cứng từ thuở thiếu niên trở thành kim chỉ nam xuyên suốt chặng đường nghiên cứu sau này. Bước ngoặt học thuật tiếp tục được củng cố khi ông theo học tại Đại học Ludwig-Maximilian ở Munich dưới sự dẫn dắt của Giáo sư Hugo Scheer. Sự say mê truyền lửa từ người thầy về cơ chế hấp thụ ánh sáng của protein vi khuẩn lam đã thúc đẩy Hegemann hướng tới Viện Max Planck ở Martinsried. Tại đây, ông trực tiếp hợp tác với nhà hóa sinh Dieter Oesterhelt để giải mã bacteriorhodopsin, hiện thực hóa hành trình nghiên cứu khoa học khởi nguồn từ niềm vui khám phá đích thực.
amung