Bỏ qua điều hướng
•

150 năm đã trôi qua, tiếng nói vì dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn vang vọng

150 năm đã trôi qua, tiếng nói vì dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn vang vọng
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Tôn vinh cụ Huỳnh Thúc Kháng hôm nay là để mỗi cán bộ, đảng viên, trí thức, người Việt Nam tự soi mình vào tấm gương, không cầu danh vị, lợi lộc, tiếp tục thắp sáng khát vọng học tập, cống hiến…

Đây là khẳng định của Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết tại hội thảo khoa học kỷ niệm 150 năm ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (1/10/1876-1/10/2026), được tổ chức tại Đà Nẵng ngày 30/9.

Hội thảo do Ban Tuyên giáo Trung ương, Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Thành ủy Đà Nẵng phối hợp tổ chức.

150 năm đã trôi qua, tiếng nói vì dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn vang vọng - 1

Đại biểu tham quan nơi trưng bày tư liệu về cụ Huỳnh Thúc Kháng (Ảnh: Công Bính).

Linh hồn của phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ

Cụ Huỳnh Thúc Kháng sinh ra trong một gia đình nho học tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Thạnh Bình, Đà Nẵng).

Lúc nhỏ cụ tên Huỳnh Văn Thước, sau là Huỳnh Hanh. Năm 1900, cụ đỗ giải nguyên thi Hương, từ đây lấy tên là Huỳnh Thúc Kháng.

Năm 1904 cụ đỗ đầu thi Hội và đỗ tiến sĩ, một vị trí cao trong hệ thống khoa cử đương thời.

Phát biểu tại hội thảo, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh trong suốt hơn 70 năm cuộc đời, cụ Huỳnh Thúc Kháng chỉ suy nghĩ và hành động với quan điểm xuyên suốt, nhất quán: Tất cả vì dân, học vì dân, viết vì dân, chịu tù đày vì dân, gánh vác việc nước cũng vì dân.

Cùng với các chí sĩ Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, cụ khởi xướng và trở thành một trong những linh hồn của phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ với tôn chỉ “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”; mở trường dạy chữ quốc ngữ, lập hội buôn, cổ vũ tân học, bài trừ hủ tục…

150 năm đã trôi qua, tiếng nói vì dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn vang vọng - 2

Cuộc đời và sự nghiệp cụ Huỳnh Thúc Kháng được giới thiệu tại hội thảo (Ảnh: Công Bính).

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cho biết phong trào Duy Tân đã thổi bùng lên phong trào chống sưu thế ở Quảng Nam và khắp Trung Kỳ đầu năm 1908. Hoảng sợ, thực dân Pháp đàn áp khốc liệt, bắt và đày cụ ra Côn Đảo.

13 năm tù ngục (1908-1921) vẫn không khuất phục được ý chí của cụ. Chính nơi “địa ngục trần gian” ấy, cụ đã tự học tiếng Pháp để mở rộng tầm nhìn ra thế giới và tôi rèn bản lĩnh của người yêu nước.

Sau khi được trả tự do và trở về đất liền, cụ tiếp tục con đường đấu tranh cho dân sinh, dân chủ. Năm 1926, với tài năng và uy tín trước nhân dân, cụ được bầu làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ. Cụ đã dùng nghị trường để tố cáo chính sách cai trị hà khắc, đòi quyền lợi cho nhân dân. Khi tiếng nói ấy bị áp chế, cụ khẳng khái từ chức vào năm 1928.

Cùng với hoạt động nghị trường, cụ còn dành nhiều tâm huyết cho hoạt động báo chí.

Năm 1927, cụ sáng lập và trực tiếp làm chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Tiếng Dân tại Huế, tờ báo Tiếng Việt đầu tiên ở Trung Kỳ và cũng là tờ báo được xuất bản lâu nhất, gần 16 năm (1927-1943).

Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, ở tuổi gần 70, cụ nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Hà Nội gánh vác việc nước.

150 năm đã trôi qua, tiếng nói vì dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn vang vọng - 3

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết phát biểu tại hội thảo (Ảnh: Công Bính).

Theo Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, cuộc gặp gỡ giữa lãnh tụ Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng là cuộc gặp của 2 nhân cách lớn trên một nền tảng chung: Độc lập của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân - biểu tượng sinh động của chiến lược đại đoàn kết dân tộc và tư tưởng trọng dụng hiền tài của Đảng ta.

Ngày 2/3/1946, cụ Huỳnh được Quốc hội khóa I tín nhiệm bầu giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ Liên hiệp kháng chiến.

Từ cuối tháng 5 đến tháng 10/1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp, cụ Huỳnh Thúc Kháng được giao trọng trách Quyền Chủ tịch nước.

Thấm nhuần lời dặn “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ điều hành bộ máy nhà nước non trẻ vững vàng giữa thù trong, giặc ngoài; kiên quyết sáng suốt chỉ đạo đập tan các âm mưu bạo loạn, lật đổ của các thế lực phản động, giữ vững chính quyền cách mạng.

Trở về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận: “Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ Huỳnh quyền Chủ tịch, sự giúp đỡ của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hợp lực của quốc dân, mà giải quyết được nhiều việc khó khăn, công việc kiến thiết cũng tiến bộ”.

Tháng 11/1946, trước ngày toàn quốc kháng chiến bùng nổ, cụ nhận nhiệm vụ đặc phái viên của Chính phủ vào miền Trung động viên đồng bào đoàn kết kháng chiến.

Ngày 21/4/1947, cụ từ trần tại Quảng Ngãi. Báo tin buồn với đồng bào cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cụ Huỳnh là một người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao... Cả đời cụ Huỳnh không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan. Cả đời cụ Huỳnh chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”.

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương khẳng định đó là lời đánh giá đầy đủ nhất, cao quý nhất về cụ Huỳnh Thúc Kháng.

“150 năm đã trôi qua nhưng tiếng nói vì dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn vang vọng. Tôn vinh cụ hôm nay là để mỗi cán bộ, đảng viên, trí thức, người Việt Nam tự soi mình vào tấm gương “không cầu danh vị, lợi lộc”; tiếp tục thắp sáng khát vọng học tập, cống hiến, đóng góp trí tuệ, tâm huyết xây dựng quê hương, đất nước hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng”, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương phát biểu.

Nhân kỷ niệm 150 năm ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng (1/10/1876-1/10/2026), Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp cùng Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và Thành ủy Đà Nẵng tổ chức hội thảo khoa học tại Đà Nẵng vào ngày 30/9. Sự kiện là dịp tôn vinh một trí thức yêu nước tiêu biểu cho tinh thần phụng sự nhân dân xuyên suốt hơn 70 năm cuộc đời. Phát biểu tại hội thảo, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Trịnh Văn Quyết nhấn mạnh quan điểm sống nhất quán của cụ Huỳnh Thúc Kháng là luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu. Sinh ra tại Quảng Nam, cụ Huỳnh Thúc Kháng từng đỗ Giải nguyên năm 1900 và đỗ đầu thi Hội, đỗ Tiến sĩ năm 1904 trong hệ thống khoa cử đương thời. Cùng với Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp, cụ trở thành một trong những nhân tố cốt cán khởi xướng phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ với tôn chỉ khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Dù chịu 13 năm tù đày tại Côn Đảo từ năm 1908 đến năm 1921, cụ vẫn kiên cường tự học tiếng Pháp để mở rộng tầm nhìn và tôi rèn bản lĩnh cách mạng. Trở về sau chốn ngục tù, cụ tiếp tục dấn thân vào con đường đấu tranh vì dân chủ và dân sinh bằng cả nghị trường lẫn báo chí. Năm 1926, cụ được bầu làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ và khẳng khái từ chức vào năm 1928 khi tiếng nói vì dân bị áp chế. Đến năm 1927, cụ sáng lập báo Tiếng Dân tại Huế, duy trì hoạt động đến năm 1943 và trở thành tờ báo tiếng Việt đầu tiên cũng như xuất bản lâu nhất tại Trung Kỳ. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ở tuổi gần 70, cụ Huỳnh Thúc Kháng nhận lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Hà Nội gánh vác việc nước. Cuộc đời cống hiến không mệt mỏi của cụ tiếp tục là tấm gương sáng để mỗi cán bộ, đảng viên và trí thức tự soi mình, thắp sáng khát vọng học tập và cống hiến cho Tổ quốc.