Bỏ qua điều hướng
•

5 năm loay hoay dạy tích hợp

5 năm loay hoay dạy tích hợp
Nguồn ảnh: VnExpress

Từng có lần bối rối khi học trò hỏi xếp một loài vật vào nhóm thú hay bò sát và lưỡng cư, cô Huyền với 15 năm dạy Vật lý, hẹn trả lời sau.

Cô Huyền, 40 tuổi, ở Ninh Bình, kể ba năm đầu khi chương trình mới có môn tích hợp như Khoa học tự nhiên, cô được phân công dạy kiến thức môn Vật lý. Từ năm ngoái, cô đảm nhận toàn bộ môn này ở lớp 6, các khối 7, 8, 9 vẫn dạy riêng như cũ.

"Phần không phải chuyên môn của mình, tôi chỉ có thể dạy cơ bản theo sách. Có nhiều câu học sinh hỏi mà chưa trả lời được, tôi hẹn giải đáp sau", cô Huyền kể. "Cô không tự tin nên trò cũng thiệt thòi".

Nữ giáo viên cho biết mình và các đồng nghiệp dạy Lý, Hóa, Sinh đều được học bồi dưỡng để dạy tích hợp, song "không thể bằng" chuyên môn đã học sâu từ thời đại học và kinh nghiệm đứng lớp hàng chục năm.

Khi ra đề kiểm tra cho học sinh, dựa vào tỷ lệ của các mạch kiến thức, chẳng hạn Vật lý 40%, Hóa học và Sinh học cùng 30%, mỗi giáo viên sẽ phụ trách phần của mình rồi ghép lại. Việc này đôi khi dẫn tới tình trạng trùng dạng bài hay chênh lệch về mức độ nhận biết giữa các câu hỏi.

Ngoài ra, thời khóa biểu gần như tuần nào cũng thay đổi. Có những bài đáng ra phải học sau, nhưng học sinh sẽ học trước, thầy cô cũng phải chạy theo. Như cô Huyền có tuần dạy tới 27 tiết do các khối đồng loạt học mạch kiến thức Vật lý, nhưng có tuần chỉ dạy 14 tiết vì các em chuyển sang học Hóa học, Sinh học.

Tại TP HCM, áp lực đè nặng lên cô Phương, khi phải dạy toàn bộ môn Khoa học tự nhiên lớp 6, 7, 8, dù chuyên môn về Sinh học.

"Tôi không đủ tự tin dạy chéo phân môn khi chỉ được tập huấn mấy tháng", cô Phương nói. Nữ giáo viên ví dụ khi dạy nội dung lượng và chất tăng/giảm ở một lớp 8 gần đây, dù đã tìm hiểu trước, cô vẫn chỉ dừng lại ở các câu hỏi cho học sinh nhận biết mà không lý giải vì sao.

"Các ví dụ tôi đều lấy từ sách giáo khoa, không dám giới thiệu bên ngoài vì sợ không đúng", cô Phương kể. "Nhiều giáo viên khác cũng rất sợ".

Theo chương trình mới, từ năm 2021, học sinh THCS không học Sinh học, Vật lý, Hóa học, Lịch sử, Địa lý riêng lẻ mà học Khoa học tự nhiên; Lịch sử và Địa lý, gọi là môn tích hợp. Để chuyển đổi, Bộ Giáo dục và Đào tạo ra kế hoạch bồi dưỡng với 20-36 tín chỉ, mỗi tín chỉ 45 tiết, tùy bằng cấp chuyên môn của thầy cô.

Dạy liên môn là xu hướng phổ biến trên thế giới, phối hợp kiến thức nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết tình huống. Sau 5 năm, nhiều nhà quản lý và chuyên gia nhìn nhận môn tích hợp ở Việt Nam như phép cộng cơ học, "cưỡi ngựa xem hoa".

Thí sinh làm thủ tục thi lớp 10 TP HCM năm 2026. Ảnh: Thanh Tùng

Thí sinh thi lớp 10 TP HCM năm 2026. Ảnh: Thanh Tùng

Tại TP HCM, các trường học đều bố trí một giáo viên đảm nhận môn tích hợp. Theo thầy Đinh Phú Cường, hiệu trưởng trường THCS Phú Định, thầy cô dù được tập huấn thường xuyên vẫn có tâm lý không thoải mái vì phải dạy trái với bằng cấp.

"Đa số giáo viên không đủ tự tin khi xử lý một số tình huống hay bài tập trên lớp", thầy Cường nhìn nhận. "Với bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 9 môn Khoa học tự nhiên, trường phải điều động 3 giáo viên, mỗi người phụ trách một phân môn mới đảm bảo kiến thức".

Ngược lại, nhiều trường ở Hà Nội vẫn để các giáo viên chia nhau dạy theo từng phần kiến thức. Thầy Khang, phó hiệu trưởng một trường THCS ở ngoại thành, lý giải chỉ số ít giáo viên có năng lực tốt để dạy Khoa học tự nhiên, Lịch sử và Địa lý của khối 6, "cùng lắm là khối 7"; một vài người đảm nhận được hai trong ba phân môn như Hóa - Sinh.

"Ở khu vực của mình, tôi chưa thấy giáo viên nào dạy thành thạo, tự tin được môn tích hợp lớp 8, 9", thầy Khang nói.

Cùng quan điểm, thầy Hồ Tuấn Anh, Phó Hiệu trưởng trường THCS Quỳnh Mai 2, Nghệ An, đánh giá thực tiễn triển khai chỉ như "cưỡi ngựa xem hoa".

Thầy chỉ ra nguyên nhân lớn nhất là môn học này được tổ chức khi nhân lực chưa sẵn sàng. Để dạy một môn, giáo viên được đào tạo 4 năm, trong khi thầy cô dạy tích hợp chỉ được tập huấn ngắn hạn, chủ yếu online, kiến thức không sâu nên không dám đi vào vấn đề nâng cao.

Thêm vào đó, bản chất nội dung sách giáo khoa vẫn là phép cộng cơ học các phân môn độc lập, tỷ lệ tích hợp không đáng kể hoặc rất ít, theo nguyên một trưởng phòng giáo dục ở TP HCM.

PGS. TS Trương Đình Thăng, giảng viên cao cấp, Đại học Đà Nẵng - chuyên gia giáo dục phổ thông, dẫn chứng sách Khoa học tự nhiên vẫn chia thành các chương, phần rõ rệt cho từng môn Vật lý, Hóa học và Sinh học. Tương tự với môn Lịch sử và Địa lý. Thậm chí, môn Âm nhạc - Mĩ thuật còn có hai cuốn sách giáo khoa khác nhau, không có sự lồng ghép nội dung

"Sách cấu trúc như vậy là làm khó cho giáo viên, trong bối cảnh năng lực dạy tích hợp còn hạn chế vì chưa được đào tạo bài bản, bồi dưỡng chưa đủ", ông Thăng nói. "Thực chất là các giáo viên đâu có dạy tích hợp, mà họ đang dạy nội dung chuyên ngành của mình trong bộ sách giáo khoa được gọi là tích hợp".

Những bất cập nói trên là khiến học sinh không hứng thú với môn học. Đặc biệt, tâm lý e ngại của giáo viên dẫn đến chất lượng giáo dục của bộ môn này giảm sút nghiêm trọng, theo thầy Tuấn Anh.

Còn thầy Đinh Phú Cường nhận định vì học sinh chưa lĩnh hội được "tinh thần tích hợp" nên hầu như không có địa phương nào chọn thi lớp 10 bằng môn này.

Dù đối mặt nhiều áp lực, nhiều trường đang dần thích nghi. Tại trường Tiểu học và THCS Chương Dương, Hà Nội, hiệu trưởng Nguyễn Thị Vân Hồng cho biết ngoài làm "công tác tư tưởng", các tổ chuyên môn được yêu cầu sinh hoạt đều đặn theo tuần, có thể tăng số buổi nếu cần. Từng giáo viên đơn môn sẽ dạy mẫu, chia sẻ kinh nghiệm, nêu những tình huống thường gặp để cùng thảo luận cách giải quyết.

Nhờ đó, trường có hơn 10 giáo viên dạy tích hợp, dễ dàng xếp thời khóa biểu, khắc phục tình trạng thừa - thiếu giờ. Học sinh học theo đúng thứ tự bài mà không bị đảo lộn mạch kiến thức, chất lượng được đảm bảo.

Cô nhìn nhận dạy tích hợp không có nghĩa biến một giáo viên Lý có thể đi thi dạy giỏi hay bồi dưỡng học sinh giỏi Hóa, Sinh. Thay vào đó, thầy cô chỉ cần đáp ứng yêu cầu kiến thức cơ bản của ba môn.

"Dạy tích hợp hoàn toàn khả thi", cô Hồng nói, đánh giá đây là cách tiếp cận tiến bộ, giúp cả thầy và trò có kiến thức liên môn.

Dù vậy, những ngày qua, một cuộc thảo luận sôi nổi diễn ra trên các diễn đàn của giáo viên phổ thông, về kiến nghị tách môn tích hợp trở lại như cũ. Cô Lan dù đã dạy môn Lịch sử và Địa lý tại TP HCM ngay từ khi triển khai vẫn hy vọng nhân dịp Bộ Giáo dục và Đào tạo sửa đổi chương trình sẽ xem xét việc này.

"Như vậy giáo viên sẽ được dạy môn học có thế mạnh, được đào sâu kiến thức, học sinh dễ tiếp cận", cô Lan nói.

Cô Huyền chung quan điểm, vì "thực tế học sinh vẫn đang học đơn môn". Theo nữ giáo viên, trong vài năm tới, khi lực lượng sinh viên sư phạm môn tích hợp tốt nghiệp, đội ngũ giáo viên trẻ đáp ứng tốt yêu cầu thì mới nên triển khai dần dần.

Nguyễn Quyên - Thanh Hằng

Sau năm năm triển khai môn học tích hợp ở bậc THCS, nhiều giáo viên vẫn loay hoay với những phần kiến thức nằm ngoài chuyên môn được đào tạo, còn học sinh đôi khi chịu thiệt thòi. VnExpress ghi nhận những khó khăn từ lớp học, nơi giáo viên vừa phải dạy nội dung mới vừa tìm cách bù đắp khoảng trống kiến thức của mình. Câu chuyện của cô Huyền, 40 tuổi, ở Ninh Bình, cho thấy khoảng cách giữa yêu cầu của chương trình và sự tự tin của người đứng lớp. Trong ba năm đầu chương trình mới, cô Huyền được phân công dạy phần Vật lý của môn Khoa học tự nhiên, trước khi đảm nhận toàn bộ môn này ở lớp 6 từ năm ngoái. Các khối 7, 8, 9 tại trường vẫn học riêng từng môn như trước, còn cô phải bao quát những nội dung không thuộc chuyên ngành của mình. Cô cho biết thường chỉ dạy phần đó ở mức cơ bản theo sách, và hẹn trả lời sau khi học sinh đặt câu hỏi vượt quá hiểu biết hiện tại. Cô Huyền cùng đồng nghiệp dạy Lý, Hóa, Sinh đã được bồi dưỡng để chuyển sang dạy tích hợp, nhưng những khóa học ấy không thể thay thế kiến thức chuyên sâu tích lũy qua đại học và nhiều năm đứng lớp. Khi ra đề kiểm tra, giáo viên chia nhau phụ trách từng mạch kiến thức theo tỷ lệ, chẳng hạn Vật lý 40%, Hóa học 30% và Sinh học 30%. Sau đó, các phần được ghép lại, đôi khi khiến đề có dạng bài trùng lặp hoặc câu hỏi lệch nhau về độ khó nhận biết. Việc xếp thời khóa biểu cũng khiến công việc thêm bất ổn, bởi thứ tự các mạch kiến thức có thể thay đổi gần như hàng tuần và giáo viên phải điều chỉnh theo. Có tuần, khi nhiều khối cùng học phần Vật lý, cô Huyền dạy tới 27 tiết; tuần khác, học sinh chuyển sang Hóa học, Sinh học và cô chỉ dạy 14 tiết. Sự thay đổi ấy không chỉ làm nhịp dạy học thiếu ổn định mà còn đòi hỏi giáo viên liên tục chuẩn bị cho nội dung khác chuyên môn của mình. Ở TP HCM, cô Phương, vốn chuyên ngành Sinh học, phải dạy toàn bộ môn Khoa học tự nhiên cho học sinh lớp 6, 7 và 8. Dù đã tìm hiểu trước bài học về lượng và chất tăng, giảm ở lớp 8, cô vẫn chỉ dám đặt câu hỏi nhận biết, chưa thể giải thích cặn kẽ nguyên nhân. Cô nói các ví dụ thường lấy trong sách giáo khoa, không dám mở rộng ra ngoài vì sợ thông tin chưa chính xác, và nhiều đồng nghiệp cũng mang tâm lý lo ngại tương tự. Từ năm 2021, theo chương trình mới, học sinh THCS chuyển từ các môn Sinh học, Vật lý, Hóa học, Lịch sử và Địa lý riêng biệt sang Khoa học tự nhiên, cùng môn Lịch sử và Địa lý tích hợp. Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra kế hoạch bồi dưỡng giáo viên từ 20 đến 36 tín chỉ, tùy bằng cấp chuyên môn, mỗi tín chỉ tương ứng 45 tiết học. Dạy liên môn là xu hướng phổ biến trên thế giới, nhằm kết hợp kiến thức từ nhiều môn để tìm hiểu và giải quyết tình huống, nhưng cách triển khai trong nước đang bị nhiều người đặt câu hỏi. Tại TP HCM, các trường đều bố trí một giáo viên dạy môn tích hợp, dù theo hiệu trưởng Đinh Phú Cường, giáo viên vẫn không thoải mái khi phải đứng lớp trái với chuyên ngành. Ông nhận xét phần đông chưa đủ tự tin xử lý một số tình huống hoặc bài tập, nên trường phải huy động ba giáo viên phụ trách từng phân môn khi bồi dưỡng học sinh giỏi Khoa học tự nhiên lớp 9. Ở nhiều trường Hà Nội, giáo viên lại chia nhau dạy từng phần, bởi theo một phó hiệu trưởng ở ngoại thành, chỉ số ít người có thể đảm nhiệm môn tích hợp ở lớp 6, cùng lắm là lớp 7. Thầy Khang cho biết có giáo viên dạy được hai trong ba phân môn, như Hóa và Sinh, nhưng ông chưa thấy ai ở khu vực mình thành thạo, tự tin với môn tích hợp lớp 8, 9. Tại Nghệ An, Phó hiệu trưởng Hồ Tuấn Anh cũng đánh giá việc thực hiện hiện nay mới dừng ở mức “cưỡi ngựa xem hoa”, với nguyên nhân lớn là nhân lực chưa sẵn sàng. Ông so sánh giáo viên một môn thường được đào tạo bốn năm với giáo viên tích hợp chỉ qua tập huấn ngắn hạn, chủ yếu trực tuyến; một nguyên trưởng phòng giáo dục ở TP HCM còn nhận xét sách giáo khoa vẫn ghép cơ học các phân môn, mức độ tích hợp rất ít.