Bỏ qua điều hướng
•

Bài thơ làm động lực thi ca của Chế Lan Viên

Bài thơ làm động lực thi ca của Chế Lan Viên
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Bài thơ thuở đi học đã gây niềm cảm hứng yêu thích thơ ca trong Chế Lan Viên, để rồi về sau khi vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường, chàng trai trẻ đã có thơ đăng trên Tin văn, Tiểu thuyết thứ Bảy, Trong khuê phòng... và xuất bản tập Điêu tàn.

Văn chiêu hồn của Nguyễn Du là cảm hứng cho Điêu tàn

Năm 1937, tập thơ Điêu tàn được xuất bản khi chủ nhân của nó đang ở tuổi 17. Với tác phẩm này, Chế Lan Viên đã làm xao động cả làng thơ Việt, như lời Hoài Thanh, Hoài Chân ghi trong Thi nhân Việt Nam 1932 - 1941: "Cái mạnh mẽ, cái to lớn ấy, những đau thương vô lý mà da diết ấy, cái thế giới lạ lùng và rùng rợn ấy, ai có ngờ ở trong tâm trí một cậu bé mười lăm mười sáu tuổi. Cậu bé ấy đã khiến bao người ngạc nhiên. Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ hai mươi, nó đứng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật". Sau này, ở tuổi lục thập, Chế Lan Viên chia sẻ về Điêu tàn, và cả khởi đầu cho đường đời thơ của mình.

Trong Ngoại vi thơ (NXB Thuận Hóa, 1987), thi sĩ cho hay nhiều bài thơ trong Điêu tàn được khơi nguồn cảm hứng từ các thi nhân cổ kim. Như bài Chiến tượng với tứ thơ mở đầu "Chim câm tiếng, nắng chiều không dám động/Lá vàng kia sợ hãi cũng thôi rơi/Làn suối trắng nghẹn lời trong ngàn rộng/Bên hàng cây kinh khủng bặt hơi cười" là nhờ Chế Lan Viên đã đọc những bài thơ viết về chiến trường của nhà thơ Pháp Leconte de Lisle. Trong Điêu tàn, có những tác phẩm đề cập mất mát, cái chết như Mồ không, Cái sọ người… được Chế Lan Viên chia sẻ là nhờ đọc Văn chiêu hồn của Nguyễn Du, Ác hoa (Les Fleurs du mal) của Baudelaire và biết về sọ người trong phòng thí nghiệm nhà trường.

Bài thơ làm động lực thi ca của Chế Lan Viên- Ảnh 1.

Tiểu thuyết trinh thám Nhà sư thọt, Mai Lĩnh xuất bản năm 1941

ẢNH: THƯ VIỆN QUỐC GIA PHÁP

Còn những tháp Chàm, hàng dừa… xuất hiện trong các bài thơ chính là ảnh hưởng từ mảnh đất nơi Chế Lan Viên sống. Thế nên nhà thơ mới có lời tri ân: "Cho tôi biết ơn cái tháp Chàm và thành phố Bình Định cũ, biết ơn cái huyện lỵ An Nhơn hẻo lánh và những chuyến tàu đêm Bình Định - Diêu Trì, biết ơn bờ biển Qui Nhơn vỗ sóng ru tôi và biết ơn những rừng dừa từng rợp bóng lên tôi". Hay nỗi đau mất nước hiện diện trong nhiều thi phẩm của tập thơ, là vì thời điểm đó, Chế Lan Viên có những người bạn thân Nguyễn Viết Lãm, Phú Sơn mà anh của họ là những người cộng sản làm cách mạng quyết đòi độc lập, tự do cho dân tộc.

Riêng về động lực đưa Chế Lan Viên tới với thi ca, lại giản dị đến không ngờ. Vẫn trong Ngoại vi thơ, thi sĩ đề cập bài Răng sâu: "Răng sạch không bao giờ sâu/Răng sâu trông thực là xấu/Đánh răng thì phải đánh/Cả trên lẫn dưới/Cả trong lẫn ngoài". Đó là bài thơ Chế Lan Viên được nghe lúc mới lên 7, lên 8 khi học ở Điện Bàn, Quảng Nam cũ. Tiết học đó do thầy giáo ốm, em vợ thầy dạy thay và đọc cho học trò chép bài thơ trên trong sách giáo khoa Vệ sinh. Cái tiếng Huế ngân nga của người thầy "đóng thế" kia có vần điệu nhịp nhàng khi ngâm đã gây cho cậu bé học trò một sự phấn chấn khác thường. Để rồi "ngoài sáu mươi tuổi, ngoái cổ lại sau, nhớ lại cảm giác thơ đầu tiên, mối tình đầu của mình với thơ là ở phút nào, thì vẫn nhớ cái khoản sâu răng ấy".

Bài thơ làm động lực thi ca của Chế Lan Viên- Ảnh 2.

Tiểu thuyết trinh thám Đám cưới Kỳ Phát, Mai Lĩnh xuất bản năm 1942

ẢNH: THƯ VIỆN QUỐC GIA PHÁP

Phạm Cao Củng vừa đi dạo vừa "viết" truyện

Dạo trước 1945, có thời gian các báo đăng tiểu thuyết kiếm hiệp Tàu dài kỳ và bán rất chạy. Nắm bắt nhu cầu đó và dạo nhỏ đã đọc nhiều truyện kiếm hiệp Tàu, Phạm Cao Củng đã sáng tác truyện "giả Tàu" đăng trên Hải Phòng tuần báo của nhà Mai Lĩnh. Theo chia sẻ của ông trong Hồi ký Phạm Cao Củng, một số bộ truyện đã được in như Giang Đông Tam Hiệp, Lục Kiếm Đồng, Võ hiệp kỳ án… góp phần giúp Mai Lĩnh ăn nên làm ra vì độc giả thích loại tiểu thuyết "ba xu" này. Theo thống kê sơ bộ của chính nhà văn, thì số truyện "Tàu giả" ấy chừng bảy tám chục bộ, có bộ dày tới 3.000 trang. Thế nhưng nói tới Phạm Cao Củng thì phải nói tới nhân vật thám tử Kỳ Phát.

Bài thơ làm động lực thi ca của Chế Lan Viên- Ảnh 3.

Tập thơ Điêu tàn, bản in năm 2014

ẢNH: TƯ LIỆU

Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại có nhận xét, "trong các tiểu thuyết trinh thám của Thế Lữ, Bùi Huy Phồn và Phạm Cao Củng, chỉ có tiểu thuyết của Phạm Cao Củng là có phần đặc sắc hơn". Nếu tiểu thuyết trinh thám của Thế Lữ có phóng viên Lê Phong, thì linh hồn trung tâm trong tiểu thuyết trinh thám Phạm Cao Củng chính là thám tử Kỳ Phát. Số lượng sách về thám tử Kỳ Phát theo ước lượng của nhà văn là khoảng 20 cuốn. Có thể kể tới trong số đó gồm Nhà sư thọt, Kỳ Phát giết người, Đám cưới Kỳ Phát…

Kỳ Phát đã ra đời như thế nào? Vẫn trong hồi ký trên, Phạm Cao Củng thông tin: "Nguyên theo lệ thường, sau bữa ăn chiều thì tôi hay rủ các em nhỏ đi cùng tôi ra hóng mát ở Cầu Rào [Hải Phòng]. Dọc đường, tôi hay kể chuyện trinh thám Kỳ Phát mà tôi chưa hề viết ra. Tôi thong thả kể từ đoạn này đến đoạn khác, vừa kể vừa nghĩ đoạn kế tiếp, thành ra sau khi kể hết chuyện thì tôi cũng đã có đầy đủ trong đầu một bản nháp tác phẩm rồi. Kế tới khi ngồi viết, tôi chỉ còn cần phải nghĩ đoạn vào truyện sao cho hấp dẫn lôi cuốn người đọc ngay, kể như xong". Lối sáng tác truyện trinh thám như Phạm Cao Củng, kể ra thật đặc biệt. Và sách thám tử Kỳ Phát xuất bản đầu thập niên 1940 đã trở thành đặc sản riêng làm nên tên tuổi của nhà văn. (còn tiếp)

Trước khi trở thành một hiện tượng thi ca Việt Nam với tập thơ "Điêu tàn" xuất bản năm 1937, Chế Lan Viên từng tiếp xúc với thơ ca theo cách giản dị bất ngờ. Mối tình đầu của ông với thi ca bắt đầu từ năm 7 tuổi tại Điện Bàn, Quảng Nam, khi ông nghe người thầy giáo dạy thay đọc bài thơ "Răng sâu" trong sách giáo khoa Vệ sinh. Giọng ngâm ngân nga xứ Huế nhịp nhàng ấy đã khắc sâu vào tâm trí nhà thơ, trở thành nguồn cảm hứng ban đầu theo ông suốt đến hơn sáu mươi năm sau. Sự khởi đầu mộc mạc đó đã mở đường cho một tài năng lớn trỗi dậy khi Chế Lan Viên còn ngồi trên ghế nhà trường. Tác phẩm "Điêu tàn" ra đời năm 17 tuổi đã làm chấn động thi đàn lúc bấy giờ, nhận được sự ngạc nhiên và thán phục từ Hoài Thanh và Hoài Chân trong "Thi nhân Việt Nam". Thế giới thơ kỳ lạ, rùng rợn và đau thương của cậu thiếu niên mười lăm mười sáu tuổi đã đứng sững như một tháp Chàm bí mật giữa đồng bằng văn học nửa đầu thế kỷ XX. Trong cuốn "Ngoại vi thơ" xuất bản năm 1987, Chế Lan Viên chia sẻ rằng cảm hứng tạo nên các tác phẩm trong "Điêu tàn" đến từ sự kết hợp giữa thi ca cổ kim và đời sống thực tại. Ông chịu ảnh hưởng từ bài thơ chiến trường của Leconte de Lisle, tác phẩm "Văn chiêu hồn" của Nguyễn Du, tập "Ác hoa" của Baudelaire cũng như tri ân mảnh đất Bình Định với tháp Chàm, rừng dừa và những chuyến tàu đêm. Bên cạnh đó, nỗi đau mất nước cùng tinh thần cách mạng từ những người bạn thân như Nguyễn Viết Lãm hay Phú Sơn cũng góp phần hình thành nên tư tưởng thi ca sâu sắc của ông.