Chủ động từ sớm cùng phương châm “4 tại chỗ” được xác định là những biện pháp quan trọng nhằm hạn chế nguy cơ mất an toàn công trình, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.
Chủ động từ những điểm xung yếu
Sau các đợt mưa lũ hằng năm, bờ sông Phú Hòa, xã Trường Phú bị sạt lở ngày càng nghiêm trọng, đe dọa nhà cửa và đường giao thông. Mỗi mùa mưa lũ về, người dân sống dọc bờ sông lại thấp thỏm trước nguy cơ sông tiếp tục “ăn” vào đất, ảnh hưởng cuộc sống.
Nhằm bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của Nhân dân, Ủy ban Nhân dân huyện Lệ Thủy trước đây đã có kế hoạch đầu tư tuyến kè chống sạt lở bờ sông Phú Hòa. Tuy nhiên, quá trình sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính khiến việc triển khai dự án bị gián đoạn.
Sau khi bộ máy chính quyền xã Trường Phú ổn định, địa phương nối lại đầu tư xây dựng tuyến kè với nguồn vốn 3 tỷ đồng. Do nguồn lực còn hạn chế, chủ đầu tư ưu tiên xử lý đoạn sạt lở nguy hiểm nhất, bắt đầu từ mố cầu Phú Hòa chạy dọc bờ hữu về phía hạ lưu, với tổng chiều dài hơn 158m.
Công trình được xây dựng theo dạng mái xiên, khung vây bằng bê-tông cốt thép; bên trong xếp đá hộc hộ chân kè, phía trên gia cố rọ đá. Trong thời gian tương đối ngắn, đơn vị thi công đã hoàn thành công trình, bảo đảm tiến độ vượt lũ vào đầu tháng 9/2026.
Ông Đoàn Văn Túy, ở xóm 1, là một trong những hộ dân chịu ảnh hưởng nặng do sạt lở cho biết, mùa lũ năm nào gia đình cũng nơm nớp lo sông “ăn” mất đất, đe dọa nhà cửa. Có lúc gia đình tưởng dự án xây dựng tuyến kè bị bỏ dở. Vì vậy, việc chính quyền xã mới tiếp tục quan tâm, đầu tư xử lý đoạn sạt lở nặng nhất giúp gia đình ông yên tâm hơn trước mùa mưa lũ.
Tại xã Nam Ba Đồn, một ngày cuối tháng 8/2026, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Nguyễn Văn Khánh cùng đại diện các bộ phận chuyên môn trực tiếp kiểm tra một số công trình trên địa bàn, gồm kè chống sạt lở kết hợp đường tại thôn Công Hòa cũ, tuyến đường giao thông liên thôn Xuân Hòa, kè Quảng Tân và một số công trình khác.
Đây đều là những công trình có vai trò quan trọng trong bảo vệ khu dân cư, phục vụ đi lại, sản xuất và bảo đảm an toàn cho người dân, nhất là trong mùa mưa lũ.
Tại dự án tuyến kè chống sạt lở bờ sông Gianh kết hợp đường giao thông tại thôn Công Hòa cũ, nay là thôn Xuân Hòa, lãnh đạo xã yêu cầu các bộ phận chuyên môn thường xuyên theo dõi, kịp thời hỗ trợ xử lý những vấn đề phát sinh, bảo đảm chất lượng công trình; đồng thời yêu cầu đơn vị thi công huy động thêm nhân lực, tranh thủ thời tiết thuận lợi, đẩy nhanh tiến độ, phấn đấu thực hiện đạt khoảng 75% khối lượng công trình trước tháng 9/2026, bảo đảm yêu cầu vượt lũ.
Theo đồng chí Nguyễn Văn Khánh, địa bàn xã trải rộng bên bờ nam sông Gianh cho nên hằng năm thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ lụt. Vì vậy, cấp ủy, chính quyền xã luôn quán triệt tinh thần chủ động từ sớm, tuyệt đối không chủ quan trước diễn biến ngày càng phức tạp của thời tiết.
Xã rà soát toàn bộ các công trình, tuyến giao thông, khu vực có nguy cơ ngập sâu; xác định cụ thể các điểm xung yếu để có biện pháp phù hợp, hạn chế thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra.
Giám sát bảo vệ công trình thủy lợi từ sớm
Quảng Trị hiện có hơn 359km đê điều, gồm đê biển, đê sông, đê cửa sông, đê bao, đê bối, đê chuyên dùng và đê cát, phân bố trên các lưu vực sông và khu vực ven biển. Hệ thống đê điều giữ vai trò quan trọng trong ngăn mặn, giữ ngọt, phòng chống lũ, bảo vệ dân cư, sản xuất nông nghiệp, nuôi thủy sản, hạ tầng giao thông và đô thị.
Tuy nhiên, tác động của biến đổi khí hậu cùng quá trình đô thị hóa và thay đổi hiện trạng sử dụng đất đang làm gia tăng áp lực đối với hệ thống đê điều. Theo thống kê, những năm qua trên địa bàn tỉnh xảy ra 37 điểm sạt lở bờ sông với tổng chiều dài khoảng 45,8km và 9 điểm sạt lở bờ biển với chiều dài hơn 11,7km.
Chi Cục trưởng Chi cục Thủy lợi và Phòng, chống thiên tai tỉnh Lê Quang Lam cho biết, các đợt mưa lũ lớn tạo áp lực lớn lên hệ thống đê, kè, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn công trình và gây ngập úng trên diện rộng. Hằng năm, tỉnh bố trí kinh phí duy tu, sửa chữa các tuyến đê, kè và xử lý các vị trí xung yếu.
Cùng với hệ thống đê điều, các hồ chứa thủy lợi được xác định là công trình quan trọng trong cắt, giảm lũ cho vùng hạ du. Hiện Quảng Trị có 243 hồ chứa, trong đó 242 hồ thủy lợi và một hồ thủy lợi kết hợp thủy điện.
Các hồ chứa dung tích lớn và vừa cơ bản được quản lý, vận hành theo quy định; hằng năm đều được kiểm tra, rà soát trước mùa mưa lũ.
Tỉnh cũng đưa vào vận hành hệ thống phần mềm cảnh báo ngập lụt trên các lưu vực sông, ứng dụng phòng chống thiên tai trực tuyến cùng hơn 90 trạm quan trắc lượng mưa, 16 trạm đo mực nước tự động, 7 trạm cảnh báo ngập lụt bằng loa phát thanh và 26 camera giám sát tại các khu vực xung yếu.
Tuy nhiên, với hơn 140 hồ chứa nhỏ do cấp xã và các tổ chức thủy lợi cơ sở quản lý, nguy cơ mất an toàn hồ đập vẫn là vấn đề cần đặc biệt quan tâm. Phần lớn các hồ được xây dựng từ lâu, đã xuống cấp; trong khi đội ngũ quản lý cơ sở còn thiếu và hạn chế về chuyên môn. Nguồn kinh phí dành cho kiểm định an toàn hồ đập và lắp đặt thiết bị quan trắc còn khó khăn.
Bảo đảm an toàn đê, kè, hồ đập trước mùa mưa lũ không chỉ là nhiệm vụ của ngành nông nghiệp và môi trường, các công ty thủy nông mà cần sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền các cấp và các cơ quan, đơn vị liên quan. Trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, yêu cầu nâng cao năng lực quản lý, nắm chắc công trình, địa bàn và xử lý tình huống ngay từ cơ sở càng trở nên cấp thiết.
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lê Văn Bảo cho biết, thời gian tới tỉnh tiếp tục đào tạo, nâng cao năng lực cho đội ngũ quản lý cơ sở, qua đó góp phần bảo đảm an toàn hệ thống đê, kè và hồ chứa.
Trong phân cấp quản lý hồ chứa, chính quyền cấp xã cần tăng cường kiểm tra hiện trạng các hồ quy mô nhỏ do xã quản lý, chủ động gia cố các vị trí xung yếu, chuẩn bị vật tư và bố trí lực lượng trực để kịp thời xử lý các tình huống phát sinh.
Cùng với đầu tư hạ tầng, Quảng Trị tăng cường chuyển đổi số trong công tác phòng chống thiên tai thông qua xây dựng cơ sở dữ liệu, bản đồ cảnh báo sớm và các phương án ứng phó theo phương châm “từ sớm, từ xa”, nhằm giảm tới mức thấp nhất thiệt hại do bão, lũ và các hình thái thời tiết cực đoan gây ra.
Tỉnh cũng từng bước hoàn thiện quy trình vận hành, xây dựng cơ sở dữ liệu và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong theo dõi, giám sát nhằm bảo đảm an toàn hệ thống hồ chứa, công trình thủy lợi trên địa bàn.
Bài và ảnh: HOÀNG PHÚC