Sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ cùng những yêu cầu mới trong bảo vệ an ninh quốc gia đang đặt ra nhiệm vụ tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có các quy định về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.
Sau gần 20 năm kể từ khi ban hành, Pháp lệnh Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia năm 2007 đã bộc lộ những hạn chế, vướng mắc, bất cập cần được khắc phục để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Lực lượng Cảnh sát cơ động chủ động xây dựng và triển khai nhiều phương án bảo vệ Nhà máy lọc dầu Dung Quất.
Trong bối cảnh đó, việc xây dựng Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia không chỉ nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý mà còn đổi mới cách tiếp cận, nâng cao hiệu quả bảo vệ các công trình có ý nghĩa quan trọng đối với an ninh quốc gia.
Một trong những yêu cầu quan trọng đặt ra đối với việc xây dựng Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia là thể chế hóa đầy đủ các quan điểm, chủ trương của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia. Đặc biệt, dự án Luật nhằm cập nhật những chỉ đạo mới tại Nghị quyết 22 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Chiến lược An ninh quốc gia.
Đồng thời, việc xây dựng Luật phải bảo đảm phù hợp với các chủ trương lớn về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bên cạnh yêu cầu thể chế hóa chủ trương của Đảng, dự án Luật còn hướng đến khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong quá trình thực hiện Pháp lệnh năm 2007.
Việc hoàn thiện pháp luật về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia phải bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời tương thích với các điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên.
Đặc biệt, trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, các quy định pháp luật về bảo vệ công trình cũng cần được đổi mới để đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh chế độ trong kỷ nguyên mới.
Phân quyền tới cấp tỉnh với công trình liên quan an ninh quốc gia
Dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia được trình Quốc hội khóa XVI tại Kỳ họp thứ 2 (tháng 10/2026) gồm 41 điều, được chia thành 7 chương.
Một trong những điểm mới nổi bật của dự thảo Luật là thay đổi cách phân loại công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Theo đó, dự thảo quy định 3 nhóm công trình, gồm: công trình trọng điểm về an ninh quốc gia; công trình an ninh, khu an ninh; công trình quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia.
Đồng thời, dự thảo quy định tiêu chí xác định, phân loại đối với từng nhóm công trình, làm cơ sở tổ chức các biện pháp bảo vệ phù hợp.
Đối với nhóm công trình quan trọng khác liên quan đến an ninh quốc gia, dự thảo tiếp tục phân thành 3 loại theo tính chất quan trọng và yêu cầu bảo vệ.
Trong đó, Thủ tướng có thẩm quyền quyết định đưa công trình loại I vào danh mục công trình liên quan đến an ninh quốc gia; Bộ trưởng Bộ Công an quyết định đối với công trình loại II; chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định đối với công trình loại III.
Đây là những quy định hoàn toàn mới so với Pháp lệnh năm 2007, nhằm khắc phục những bất cập trong thực tiễn, đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo tinh thần Nghị quyết 66 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đáng chú ý, dự thảo bổ sung quy định về bảo vệ công trình an ninh, khu an ninh. Đây là những công trình trực tiếp phục vụ hoạt động thường xuyên của lực lượng Công an Nhân dân trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Dự thảo Luật cũng thay đổi cách tiếp cận đối với các biện pháp bảo vệ.
Đối với công trình an ninh, khu an ninh, Chính phủ đề xuất quy định việc xác định phạm vi bảo vệ và biện pháp bảo vệ trên cơ sở tham khảo và bảo đảm tương đồng với quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự.
Đối với công trình an ninh, khu an ninh, việc xác định phạm vi và biện pháp bảo vệ được xây dựng trên cơ sở tham khảo, bảo đảm tương đồng với quy định về quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự.
Cách tiếp cận này nhằm bảo đảm các cơ quan có trách nhiệm triển khai biện pháp bảo vệ thống nhất, đồng bộ trên phạm vi cả nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.
Đặc biệt, việc bảo vệ công trình không chỉ tập trung vào các biện pháp vật lý đơn thuần mà còn bao gồm những biện pháp khoa học, công nghệ hiện đại được quy định trong pháp luật chuyên ngành. Nhờ đó, khi các biện pháp bảo vệ được nâng cấp, điều chỉnh theo sự phát triển của khoa học, công nghệ, việc áp dụng có thể được cập nhật, bổ sung kịp thời, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Phân định rõ trách nhiệm, tránh chồng chéo trong bảo vệ công trình
Điểm đáng chú ý khác, dự thảo Luật đặc biệt chú trọng xác định rõ lực lượng thực hiện nhiệm vụ, cũng như trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Theo đó, dự thảo Luật quy định lực lượng bảo vệ của Bộ Công an, lực lượng bảo vệ của cơ quan, tổ chức quản lý, sử dụng công trình; không quy định về lực lượng của Bộ Quốc phòng vì đã được điều chỉnh tại Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự.
Đồng thời, quy định về quan hệ phối hợp giữa các lực lượng bảo vệ, trong đó có trách nhiệm phối hợp của lực lượng bảo vệ của quan, tổ chức quản lý, sử dụng công trình với các lực lượng Công an, Quân đội và các lực lượng khác có liên quan.
Những thay đổi này nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, thực hiện nguyên tắc “5 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả. Qua đó, góp phần khắc phục tình trạng chồng chéo hoặc bỏ trống lĩnh vực trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.
Dự thảo Luật cũng lược bỏ các quy định cụ thể về trách nhiệm của bộ, ngành, địa phương trong quản lý nhà nước về bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, thay vào đó giao Chính phủ quy định chi tiết.
Việc điều chỉnh này được thực hiện theo tinh thần Nghị quyết 66, trong đó luật chỉ quy định những vấn đề khung, mang tính nguyên tắc thuộc thẩm quyền của Quốc hội; còn những nội dung thực tiễn thường xuyên biến động được giao Chính phủ quy định để bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với thực tiễn.